Nghề 'cọc' ngựa ở vùng cao
'Cọc' ngựa là cách gọi quen thuộc của người Tày để chỉ hình thức chăn thả ngựa trên các bãi cỏ vùng cao. Do tập tính của loài ngựa thường chỉ ăn cỏ trong một phạm vi nhất định cho đến khi hết mới di chuyển, nên người dân dùng cọc đóng xuống đất, buộc mỗi con vào một vị trí cố định. Khi cỏ đã hết, họ lại chuyển cọc sang khu vực khác. Từ đó, 'cọc' ngựa trở thành một tập quán chăn nuôi gắn bó lâu đời với đồng bào miền núi.

“Cọc” ngựa từ lâu đã trở thành tập quán chăn nuôi của người dân vùng cao.
Tại cánh đồng Sloi Chang, thôn Vằng Khít, xã Văn Lang, chúng tôi gặp ông Hồ Duyên đang thoăn thoắt đóng cọc, buộc dây cho đàn ngựa bạch của gia đình. Gần 20 năm qua, gia đình ông là một trong những hộ đầu tiên được hỗ trợ giống ngựa bạch từ chương trình giảm nghèo của địa phương. Từ 2 con ngựa ban đầu, đàn ngựa của ông đã phát triển ổn định, mang lại nguồn thu đáng kể. Có thời điểm, mỗi con ngựa bạch được bán với giá 50-60 triệu đồng.
Ông Duyên là người hiếm hoi vẫn giữ nếp “cọc” ngựa theo cách truyền thống. Bãi cọc ngựa Sloi Chang tại thôn Vằng Khít có nhiều hộ gia đình cũng thực hiện chăn thả bởi diện tích soi bãi nơi đây rộng, tầm quan sát bao quát, dễ giám sát đàn ngựa hơn nhiều bãi chăn thả khác, nhưng chỉ có ông Hồ Duyên là người “cọc” ngựa duy nhất còn ngủ lại lán giữa đồng để trông đàn ngựa.
Ông Duyên kể, với người “cọc” ngựa, có thể đưa ngựa di chuyển vài soi bãi mỗi năm, tùy thuộc vào nơi có ít hay nhiều cỏ và tùy thuộc vào quy mô đàn ngựa. Ban ngày rong ruổi theo ngựa, đêm ngủ ở lán nhỏ giữa đồng, tuy vất vả nhưng đổi lại là cuộc sống ổn định. Nhờ đàn ngựa, ông đã có điều kiện nuôi các con ăn học, dựng vợ gả chồng.
Ở Văn Lang, không riêng gia đình ông Duyên mà nhiều hộ dân khác cũng thành công nhờ nuôi ngựa bạch. Gia đình chị Nông Thị Nhung, cùng thôn Vằng Khít, từng duy trì đàn ngựa gần 20 con mỗi năm. Từ nguồn thu này, chị đã nuôi hai con trai trưởng thành, có việc làm ổn định, đồng thời tích lũy vốn để mở cửa hàng kinh doanh dịch vụ.
Chị Nhung cho biết: Trước đây gia đình khó khăn, hai vợ chồng thay nhau đi "cọc" ngựa, đến khi con lớn biết chăn thì để con chăn. Sau này con đi học đại học, không có người hộ chăn chúng tôi mới bán bớt ngựa đi để lo cho con đi học, hiện nay gia đình vẫn duy trì nuôi 4 đến 5 con mỗi năm.
Bà Nông Thị Diệp, Chủ tịch UBND xã Văn Lang, cho biết: Xã Văn Lang là xã miền núi còn nhiều khó khăn. Đất canh tác ít do nằm ở vùng lõi của Khu Dự trữ Quốc gia Kim Hỷ. Để giúp người dân có sinh kế, từng bước thoát nghèo, từ nhiều năm nay, xã đã triển khai các chương trình, dự án và các nguồn vốn vay ưu đãi để các hộ đăng ký chăn nuôi trâu, ngựa bạch.

Anh Ngô Xuân Trường (xã Ngân Sơn) chăm sóc đàn ngựa tại đồi cây ăn quả của gia đình.
Không chỉ ở Văn Lang, mô hình “cọc” ngựa còn được linh hoạt áp dụng tại nhiều nơi. Chúng tôi đến khu vực đèo Khau Khang, thuộc địa phận xã Ngân Sơn, thăm mô hình chăn nuôi ngựa giữa vườn cây ăn quả của anh Ngô Xuân Trường. Anh cho biết: Từ năm 2024, tôi bắt đầu mở rộng diện tích trồng cây ăn quả như đào, lê, hạt dẻ, hồi… trên tổng diện tích hơn 3 héc-ta vườn. Trong thời gian cây chưa cho thu hoạch, tôi buộc đàn ngựa dưới tán cây để tận dụng nguồn cỏ tự nhiên. Khi cây vào mùa ra hoa, tôi lại di chuyển đàn ngựa sang khu vực khác để bảo vệ cây trồng. Hiện nay anh đang duy trì đàn ngựa hơn 10 con, vừa bán ngựa thịt, vừa hướng đến phát triển du lịch trải nghiệm.
Từ lâu “cọc” ngựa đã trở thành nét sinh hoạt quen thuộc của người dân vùng cao. Cách chăn nuôi này phù hợp với điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác và khả năng lao động của bà con. “Cọc” ngựa, từ một tập quán chăn nuôi, đã trở thành sinh kế thiết thực, góp phần mang lại cuộc sống ấm no hơn cho người dân vùng cao.
Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/xa-hoi/202604/nghe-coc-ngua-o-vung-cao-5111643/











