Ngữ liệu ngoài sách giáo khoa: Cơ hội đi kèm áp lực

Việc đưa ngữ liệu ngoài sách giáo khoa (SGK) vào dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn bên cạnh những lợi ích dễ nhận thấy, không ít ý kiến băn khoăn: liệu việc sử dụng ngữ liệu ngoài SGK có đang tạo thêm áp lực, thậm chí làm khó giáo viên Ngữ văn?

 Một tiết học Ngữ văn của học sinh Trường THCS Yên Mỹ (xã Thanh Trì, Hà Nội). Ảnh: NTCC

Một tiết học Ngữ văn của học sinh Trường THCS Yên Mỹ (xã Thanh Trì, Hà Nội). Ảnh: NTCC

Không dễ để chọn văn bản, thiết kế đề và giữ lửa văn học

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 quy định rõ: trong các bài kiểm tra, đánh giá cuối năm và cuối cấp, cần tránh sử dụng lại những ngữ liệu mà học sinh đã học trong SGK. Đồng thời, Công văn 3175 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn ở trường phổ thông cũng nêu cụ thể: không sử dụng ngữ liệu trong SGK cho các bài kiểm tra cuối kỳ.

Hiện các nhà trường đã và đang từng bước triển khai quy định này trong thực tế giảng dạy và đánh giá. Nhiều đề kiểm tra, đề thi đã chủ động sử dụng văn bản ngoài SGK, đa dạng về thể loại và chủ đề, nhằm đánh giá đúng năng lực đọc hiểu và khả năng vận dụng của học sinh. Thầy Nguyễn Phương Bắc - giáo viên Trường THCS Lâm Thao (Bắc Ninh) cho biết, cả thầy và trò đã dần thích ứng với phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá mới trong môn Ngữ văn. Trên lớp, thay vì chỉ bám vào văn bản trong SGK, giáo viên tổ chức cho học sinh khám phá các chủ đề, đồng thời định hướng các em tìm đọc thêm những văn bản cùng thể loại hoặc cùng mạch nội dung để rèn luyện kỹ năng đọc hiểu, mở rộng vốn hiểu biết, tích lũy nền tảng... Tuy nhiên, việc định hướng cho học sinh lựa chọn và tiếp cận các tác phẩm ngoài chương trình không hề đơn giản. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và giáo viên trong việc tạo dựng môi trường cũng như khơi gợi động lực để học sinh duy trì thói quen đọc sách thường xuyên.

Song song với đó, chính giáo viên cũng phải rời khỏi “vùng an toàn” là các văn bản quen thuộc trong SGK để tìm kiếm, xử lý ngữ liệu mới, thiết kế câu hỏi và đáp án – việc đòi hỏi nhiều thời gian và công sức hơn. Khi vai trò của SGK được nhìn nhận lại cũng đồng thời đặt ra không ít thách thức. Bởi không phải văn bản nào cũng phù hợp để đưa vào giảng dạy hay kiểm tra. Giáo viên phải cân nhắc về độ dài, mức độ khó, giá trị nội dung và khả năng khai thác. Việc tìm kiếm những ngữ liệu “vừa sức” nhưng vẫn đủ độ mở, khuyến khích học sinh bày tỏ quan điểm, nhưng đồng thời vẫn cần định hướng rõ ràng để tránh lan man là không dễ.

Đề mở, đáp án cũng cần mở

Với ngữ liệu có thể là lần đầu học sinh được tiếp cận, một yêu cầu tất yếu đặt ra là đáp án và cách chấm thi cũng phải mở tương ứng. Điều này nhằm tạo không gian cho học sinh thể hiện cách cảm nhận và lập luận riêng, thay vì bị bó hẹp trong một hệ thống ý cố định. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải lúc nào điều này cũng được thực hiện đồng bộ.

Đáp án đề thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn năm 2025, dù đề yêu cầu viết bài nghị luận “khoảng 600 chữ”, nhưng riêng phần nội dung cốt lõi trong đáp án đã chiếm gần 400 chữ với các ý được liệt kê khá chi tiết. Điều này khiến nhiều giáo viên băn khoăn: khi đáp án đã quá cụ thể, thì tính mở của đề thi còn ở đâu? Nếu người chấm chỉ đối chiếu ý, liệu những bài viết có cách triển khai khác nhưng hợp lý có được ghi nhận xứng đáng?

Chính vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng đáp án không nên dừng ở việc liệt kê các ý “chuẩn”, mà cần xác định các tiêu chí cốt lõi như: hiểu đúng vấn đề, lập luận logic, dẫn chứng phù hợp và diễn đạt rõ ràng. Trên cơ sở đó, giám khảo có thể linh hoạt đánh giá những bài làm có góc nhìn mới, cách triển khai thuyết phục, dù không trùng khớp hoàn toàn với đáp án mẫu. Chỉ khi đề, đáp án và cách chấm thi cùng “mở”, mục tiêu phát triển năng lực học sinh mới thực sự đạt được.

Một vấn đề đặt ra khi sử dụng ngữ liệu ngoài SGK là nguy cơ làm giảm sự chú trọng đối với các văn bản trong sách. Do tâm lý các ngữ liệu này sẽ không xuất hiện trong đề thi, một số giáo viên có thể nảy sinh tâm lý chủ quan, cho rằng tác phẩm “không thi” nên không cần đầu tư giảng dạy sâu, thiếu sự tâm huyết và thời gian dành cho bài học. Thầy Trần Văn Toản - Trường THPT Chuyên Quốc học Huế cũng cảnh báo học sinh dễ hình thành tâm lý học đối phó, học qua loa thay vì tìm hiểu kỹ tác phẩm.

Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần làm rõ cho học sinh hiểu đúng mục tiêu, định hướng và cách thức ra đề trong chương trình mới. Quan trọng hơn, cần trang bị cho các em hệ thống kỹ năng và phương pháp làm bài, nắm vững đặc trưng thể loại để khi bước vào phòng thi, dù gặp bất kỳ văn bản mới nào, các em vẫn có thể chủ động phân tích và xử lý hiệu quả.

PGS.TS Bùi Mạnh Hùng - Tổng chủ biên SGK tiếng Việt - ngữ văn, bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống” đề xuất nên khuyến khích, thậm chí quy định sử dụng lại ngữ liệu đã học trong các bài kiểm tra thường xuyên và giữa kỳ, nhằm giúp học sinh ghi nhớ sâu các “ngữ liệu di sản” như Truyện Kiều, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo…

PGS.TS Bùi Mạnh Hùng gợi ý giáo viên có thể đa dạng hình thức đánh giá như yêu cầu học thuộc một đoạn thơ, hoặc thiết kế câu hỏi dựa trên chính văn bản trong SGK. Cách làm này sẽ buộc học sinh học kỹ, hiểu sâu và ghi nhớ tốt hơn các tác phẩm quan trọng.

Thu Hương

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/ngu-lieu-ngoai-sach-giao-khoa-co-hoi-di-kem-ap-luc.html