Người đánh thức tiềm năng cây dược liệu miền núi
Phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương, nhiều hộ gia đình đã chủ động tìm tòi, đổi mới phương thức sản xuất, lựa chọn cây trồng phù hợp nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Tiêu biểu trong đó có ông Đỗ Văn Chiến ở xóm Bu Chằm, xã Thịnh Minh, tỉnh Phú Thọ, với mô hình trồng và chế biến cây dược liệu như cà gai leo, xạ đen, bạch ngân, đinh lăng. Với quy mô diện tích 18 ha, mô hình không chỉ mang lại nguồn thu cho gia đình mà còn góp phần tạo việc làm cho người lao động, mở ra hướng phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị sản phẩm tại địa phương.

Ông Đỗ Văn Chiến bên diện tích trồng cây dược liệu tại xóm Bu Chằm, xã Thịnh Minh. Ảnh: CAO HÀ

Xóm Bu Chằm, xã Thịnh Minh là địa bàn nông thôn miền núi, nằm trong khu vực chân núi Ba Vì. Người dân chủ yếu sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và một số hoạt động kinh tế khác. Với đặc điểm tự nhiên, quỹ đất và điều kiện sản xuất tại địa phương, việc lựa chọn cây trồng phù hợp, khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai và phát triển các mô hình sản xuất hàng hóa có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân.
Nhận thấy tiềm năng và giá trị kinh tế của cây dược liệu, ông Đỗ Văn Chiến đã mạnh dạn tìm hiểu, lựa chọn các loại cây trồng phù hợp để tổ chức sản xuất. Từ việc khai thác hiệu quả quỹ đất, tận dụng nguồn lực sẵn có và chủ động tìm hướng đi mới, ông từng bước xây dựng mô hình trồng cây dược liệu với quy mô tương đối lớn, góp phần đa dạng hóa cơ cấu cây trồng và phát huy lợi thế sản xuất nông nghiệp của địa phương.
Hiện nay, mô hình có tổng diện tích trồng cây dược liệu khoảng 18 ha, năng suất đạt khoảng 15 tấn/ha. Với quy mô và sản lượng này, hoạt động sản xuất tạo ra nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến, đồng thời góp phần hình thành hướng sản xuất hàng hóa gắn với nhu cầu thị trường. Doanh thu của mô hình đạt khoảng 850 triệu đồng/năm. Đầu ra sản phẩm đã từng bước được hình thành, tạo điều kiện duy trì hoạt động sản xuất và góp phần bảo đảm nguồn thu cho gia đình.
Điểm nổi bật của mô hình là không chỉ dừng lại ở khâu trồng và cung cấp nguyên liệu mà còn hướng tới chế biến, nâng cao giá trị cây dược liệu. Từ nguồn nguyên liệu thu được, các sản phẩm được phát triển thành trà túi lọc tiện lợi, đồng thời nguyên liệu được cung cấp cho nhà máy sản xuất. Việc gắn kết giữa trồng trọt, chế biến và tiêu thụ góp phần nâng cao giá trị nông sản, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường và tạo cơ sở để phát triển sản xuất theo hướng ổn định, bền vững.

Khu vực sơ chế, sấy và chế biến nguyên liệu dược liệu của mô hình. Ảnh: CAO HÀ

Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cho hộ gia đình, mô hình còn góp phần giải quyết việc làm cho người lao động tại địa phương. Hiện nay, hoạt động sản xuất tạo việc làm cho khoảng 30 lao động, góp phần tăng cơ hội việc làm, cải thiện thu nhập và nâng cao đời sống người dân. Đây là ý nghĩa thiết thực đối với phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn, miền núi, nơi tạo sinh kế ổn định và phát huy nguồn lực lao động tại chỗ có vai trò quan trọng.
Thực tiễn mô hình của ông Đỗ Văn Chiến cho thấy, phát triển cây dược liệu là một hướng đi có thể góp phần đa dạng hóa sinh kế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, việc kết hợp giữa trồng trọt, sơ chế, chế biến và tiêu thụ sản phẩm giúp hạn chế tình trạng chỉ sản xuất nguyên liệu thô, từng bước hình thành chuỗi giá trị, tạo thêm việc làm và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cùng một diện tích đất sản xuất.
Mô hình cũng có sự phù hợp với định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp theo chuỗi giá trị của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, Dự án 3 về phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị đã nhấn mạnh yêu cầu khai thác lợi thế địa phương, phát triển sinh kế, nâng cao thu nhập và thúc đẩy liên kết trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Kinh nghiệm từ mô hình có giá trị tham khảo đối với nhiều địa phương miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt, tại những nơi có điều kiện đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp và có khả năng tổ chức sản xuất cây dược liệu, việc nghiên cứu, lựa chọn những loại cây trồng có giá trị kinh tế, gắn sản xuất với chế biến và tìm kiếm thị trường tiêu thụ có thể mở ra hướng phát triển sinh kế mới cho người dân.
Để có thể vận dụng và nhân rộng mô hình tại các địa phương khác, cần căn cứ vào điều kiện tự nhiên, đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu và tập quán canh tác của từng vùng để lựa chọn loại cây dược liệu phù hợp. Đồng thời, cần chú trọng chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, hướng dẫn quy trình trồng, chăm sóc, thu hoạch và sơ chế; hỗ trợ người dân tiếp cận thông tin thị trường, nguồn vốn, đào tạo nghề và các chính sách phát triển sản xuất theo quy định. Việc phát triển diện tích cần gắn với nhu cầu tiêu thụ thực tế, tránh tình trạng sản xuất tự phát, mở rộng diện tích nhưng không bảo đảm đầu ra.
Bên cạnh đó, cần tăng cường liên kết giữa hộ sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và đơn vị thu mua nhằm hình thành chuỗi sản xuất ổn định. Quan tâm xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện truy xuất nguồn gốc và áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất phù hợp. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc phát triển các mô hình tương tự cần gắn với tạo việc làm tại chỗ, ưu tiên phát huy nguồn lao động địa phương, nâng cao kỹ năng sản xuất và từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa phù hợp với lợi thế của từng địa bàn.
Thực tiễn cũng cho thấy, việc phát triển cây dược liệu bền vững không chỉ cần sự chủ động, mạnh dạn của người sản xuất mà còn cần sự đồng hành của chính quyền địa phương trong công tác định hướng quy hoạch vùng trồng, kết nối thị trường, hỗ trợ ứng dụng khoa học kỹ thuật và phổ biến các chính sách phát triển kinh tế. Đây là những yếu tố quan trọng giúp người dân yên tâm đầu tư sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và hạn chế rủi ro trong quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình.
Mô hình của ông Đỗ Văn Chiến là minh chứng cho tinh thần cần cù, chủ động, sáng tạo trong lao động sản xuất và ý chí vươn lên phát triển kinh tế. Với diện tích 18 ha, doanh thu khoảng 850 triệu đồng mỗi năm và tạo việc làm cho khoảng 30 lao động, mô hình góp phần khai thác tiềm năng cây dược liệu, nâng cao thu nhập và tạo sinh kế cho người dân.
Từ thực tiễn mô hình có thể thấy, phát huy lợi thế cây dược liệu, tổ chức sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm là một hướng đi đáng quan tâm trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Những kinh nghiệm từ mô hình không chỉ có ý nghĩa đối với địa phương nơi triển khai mà còn có thể được nghiên cứu, vận dụng phù hợp tại các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện tự nhiên tương đồng. Qua đó, góp phần đa dạng hóa sinh kế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, thúc đẩy giảm nghèo bền vững và thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi./.
Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/nguoi-danh-thuc-tiem-nang-cay-duoc-lieu-mien-nu
