Những anh hùng bước ra từ câu hát
Có 3 người anh hùng thuộc 3 dân tộc khác nhau nhưng lịch sử và âm nhạc đã đưa họ cùng bước vào một không gian ký ức của Gia Lai, đó là Anh hùng Núp (dân tộc Bahnar), A Sanh (dân tộc Jrai) và Bùi Ngọc Đủ (dân tộc Kinh).
Nếu Anh hùng Núp làm nên hình tượng bất tử trong ca khúc Hát mừng Anh hùng Núp, Anh hùng A Sanh (tên thật Puih San) đi vào huyền thoại với Người lái đò trên sông Pô Cô thì Anh hùng Bùi Ngọc Đủ làm nên mạch nguồn cảm xúc trong Ơi dòng suối La La.
Tuy những người anh hùng ấy đã lần lượt khuất bóng nhưng di sản tinh thần họ để lại vẫn luôn ở đó, trong tâm thức bao thế hệ. Với người viết bài này, may mắn lớn nhất là đã có dịp gặp gỡ 2 trong số 3 con người hết sức đặc biệt này.
1. Có thể khi đặt bút xuống khuôn nhạc để viết nên những ca từ, giai điệu thấm đẫm niềm tự hào về Anh hùng Núp - cánh chim đầu đàn của Tây Nguyên, nhạc sĩ Trần Quý không ngờ rằng mình sẽ được trao tặng giải thưởng của Ban Văn nghệ Trung ương năm 1953-1955 với ca khúc Hát mừng Anh hùng Núp.
Còn người anh hùng trong bài hát, như bao con người bình dị trên xứ sở này, có lẽ cũng chưa từng hình dung bản thân sẽ được phong tặng một danh hiệu nào đó khi cùng dân làng đứng lên đánh Pháp.
Không khô cứng như những trang tư liệu hay trong báo cáo thành tích, hình ảnh Anh hùng Núp đã được âm nhạc cô đúc thành biểu tượng của cả một vùng đất bằng những câu hát đậm nhịp thở núi rừng: “Đây bất khuất Tây Nguyên cao cao/Núi mây điệp trùng gió ào ào/Đây sóng nước sông Ba dâng trào/Người Bahnar như đàn chim ch’rao/Anh dũng nhất đánh Tây Pha-lang/Có anh hùng là chim đầu đàn/Gương anh Núp đánh Tây giữ làng/Rạng soi vinh quang trời Việt Nam”.
Tôi vinh dự được gặp Anh hùng Núp vào năm 1991, khi là một học sinh lớp 5 đang tham gia đợt bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia của tỉnh. Sáng đó, cô giáo vui mừng thông báo rằng bác Núp sẽ đến thăm và động viên học sinh của các lớp chuyên. Dĩ nhiên, chúng tôi biết đến bác khá nhiều qua sách báo nhưng gặp trực tiếp thì chưa từng nghĩ đến.

Anh hùng Núp (hàng đầu, ngoài cùng bên phải) cùng lãnh đạo tỉnh đến thăm một trường học ở Pleiku năm 1991. Ảnh: Chụp lại ảnh tư liệu
Sau những háo hức, người anh hùng xuất hiện thật hiền từ với vầng trán rộng, bộ râu trắng dài đến ngực, đôi mắt lấp lánh nét tươi vui. Đến giờ, sau 35 năm, lứa học sinh thuở đó vẫn chưa quên từng lời bác Núp trò chuyện, dặn dò, rằng các bác ngày xưa chịu mọi gian khổ, hy sinh trong kháng chiến là để chúng tôi được sinh sống, học tập trong hòa bình; rằng bác gửi gắm nhiều hy vọng vào thế hệ sau như thế nào…
Nếu đã đọc nhiều về Anh hùng Núp, ta biết ông là người rất giỏi trong các cuộc tập hợp, trò chuyện mang tính cộng đồng. Từng lời của ông gây ấn tượng không bằng ngôn từ hoa mỹ mà bằng chính trải nghiệm cá nhân, bằng sự gần gũi đến lạ lùng. Vì vậy, cuộc gặp gỡ ấy đã để lại trong lũ trẻ chúng tôi ký ức vô cùng sâu đậm.
Sau này, khi có dịp phỏng vấn ông Ngô Thành - nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai, người từng có thời gian kề cận Anh hùng Núp suốt gần 10 năm, chúng tôi đã ghi lại một nhìn nhận khá bao quát của ông: “Có thể học hỏi Anh hùng Núp ở rất nhiều mặt: Tinh thần yêu nước, yêu dân tộc tạo nên sức mạnh vượt ra ngoài khả năng mình có, làm nên những điều phi thường. Ông cũng là người có quan điểm quần chúng gần gũi, chan hòa; tinh thần lao động hăng say; tính tình giản dị, khoan dung…”.
2. Với Anh hùng Bùi Ngọc Đủ - người nhập ngũ từ một vùng quê ở Thanh Hóa, tôi có những kỷ niệm rất sâu sắc sau cuộc phỏng vấn tại nhà ông ở thị trấn Kon Dơng (huyện Mang Yang cũ, nay là xã Mang Yang) vào năm 2005.
Khi đó, vì nhiều lẽ mà ông vẫn chưa được tuyên dương danh hiệu Anh hùng, dù chiến công vào cuối tháng 2-1967 ở Quảng Trị lẫy lừng đến nỗi nhạc sĩ Huy Thục phải viết ngay ca khúc Ơi dòng suối La La.
“Ơi dòng suối La La! Nước trong xanh hiền hòa/Chảy quanh đồi Không Tên/Nay đồi đã mang tên “Tiểu đội Bùi Ngọc Đủ”/Mười dũng sĩ diệt Mỹ/… Ai qua suối La La/Nghe dòng suối reo ca/Chiến công mười dũng sĩ/Xông lên như thác đổ/Giữa bão lửa quê ta…”.
Ca khúc ấy đã ghi lại một chiến công vô tiền khoáng hậu khi ông Bùi Ngọc Đủ, lúc đó là Tiểu đội trưởng, đã chỉ huy 9 người trong đơn vị đánh bật 200 lính Mỹ ở “đồi Không Tên”, loại khỏi vòng chiến đấu hơn nửa quân số địch.
Từ trận đánh “1 thắng 20” này, ông Bùi Ngọc Đủ được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất, được ra Hà Nội gặp Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp để báo công.
Tôi vẫn nhớ mãi lần gặp ông tại nhà riêng. Lần đó, ông đang phơi cà phê trên khoảng sân trước nhà, thấy chúng tôi ghé thăm thì liền dừng tay pha trà.
Ngoài câu chuyện ngược dòng ký ức về chiến thắng được in đậm trong sử sách, chúng tôi còn hào hứng biết thêm sáng kiến của ông để giúp nhiều CCB trên địa bàn thoát đói, thoát nghèo.

Anh hùng Bùi Ngọc Đủ trong buổi giao lưu do tỉnh Gia Lai tổ chức năm 2010 trước khi lên đường ra Thủ đô dự Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Ảnh: P.D
Theo đó, ông là người đứng ra phối hợp vận động mỗi CCB góp vào “Kho thóc CCB” 20 kg thóc sau mùa thu hoạch để giúp đỡ những trường hợp khó khăn.
Có thời điểm, cả huyện Mang Yang (cũ) có đến 37 kho thóc, với số lượng huy động được lên đến hàng trăm tấn!
Một con người như vậy xứng đáng để người ta phải ngả mũ. Trong bài viết về ông sau đó, tôi đã không ngần ngại cho rằng, dù có được phong tặng hay không, ông đã là anh hùng giữa đời thường - cái chất anh hùng, gai góc không lẫn vào đâu được của người lính đã kinh qua trận mạc, khói lửa.
Và bài báo đó chính là lý do khiến hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân của Bùi Ngọc Đủ bị… gác lại lần nữa vì ông bị coi là kiêu ngạo, “cầm đèn chạy trước... danh hiệu”.
Ấy vậy mà ông chẳng một lời trách cứ. Còn nhớ, 1 đêm cuối đông phố Núi, ông được mời đến nói chuyện truyền thống với sinh viên một trường cao đẳng nhân Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12). Tôi đến và mang tặng ông chiếc khăn choàng cổ.
Ông bước lên sân khấu rồi trân trọng nói to trước hội trường rằng “đây là chiếc khăn mà nhà báo Phương Duyên - Báo Gia Lai vừa tặng tôi”. Tôi đứng bên dưới thấy sống mũi cay cay.
Mãi đến năm 2010, ông Bùi Ngọc Đủ mới được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Cũng trong năm đó, ông vinh dự là 1 trong 1.000 Anh hùng, mẹ Việt Nam anh hùng trên cả nước được mời tham dự chương trình giao lưu chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.
***
Riêng với Puih San, người Anh hùng Jrai đã đi vào những câu hát để đời trong ca khúc Người lái đò trên sông Pô Cô (nhạc Cầm Phong, thơ Mai Trang) thì tiếc là tôi chưa từng có dịp gặp gỡ...
Song, bù lại, tôi có duyên được “gặp” bóng hình ấy qua hồi ức của ông Rahlan Pêng (thôn A Sanh, xã Ia Krái), người đồng đội từng chèo thuyền độc mộc đưa bộ đội qua sông trong kháng chiến chống Mỹ. Mới đây, nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27-7), chúng tôi có dịp thắp hương mặc tưởng trước mộ người anh hùng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Ia Grai.

Các bạn trẻ thắp hương tưởng niệm Anh hùng A Sanh nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Ảnh: P.D
Đáng mừng khi thấy di sản tinh thần mà ông để lại vẫn hiện hữu qua Hội đua thuyền độc mộc tranh cúp A Sanh được địa phương tổ chức hằng năm; qua ngân nga câu hát: “Hỡi Pô Cô ơi! Dòng sông mênh mông/Đôi bờ cây xanh biếc, nước chảy xiết sâu thẳm/Qua tháng ngày hỏi sông ơi có biết/Anh lái đò tên gọi A Sanh?”.
Thật tình cờ, trong những bài hát kể trên, tên mỗi người anh hùng đều gắn liền với một dòng sông, con suối. Phải chăng, chúng lặng lẽ chảy trôi trong âm nhạc để gợi cho ta nhớ về những mạch nguồn không bao giờ vơi cạn?
Nguồn Gia Lai: https://baogialai.com.vn/nhung-anh-hung-buoc-ra-tu-cau-hat-post596411.html
