Những hành vi gây lãng phí và xác định hậu quả của hành vi gây lãng phí

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 266/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí. Trong đó nêu rõ về hành vi gây lãng phí; xác định hậu quả của hành vi gây lãng phí; các hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí…

Nguyên tắc xác định hành vi gây lãng phí

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều 4, Điều 5, khoản 2 Điều 9, khoản 3 Điều 12, Điều 13, Điều 15, khoản 2 Điều 16, Điều 17 và khoản 2 Điều 24 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí số 110/2025/QH15.

Đối tượng áp dụng gồm: Tổ chức chính trị, cơ quan nhà nước; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đơn vị lực lượng vũ trang; đơn vị sự nghiệp công lập; doanh nghiệp nhà nước; cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong khu vực nhà nước; doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác có liên quan đến công tác tiết kiệm, chống lãng phí.

Về nguyên tắc xác định hành vi gây lãng phí, theo Nghị định: Việc xác định hành vi gây lãng phí phải được thể hiện trong kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, giải quyết tố cáo trên cơ sở phân tích, đánh giá đầy đủ nguyên nhân khách quan và chủ quan của hành vi gắn với hậu quả lãng phí.

Hành vi gây lãng phí

Nghị định quy định cụ thể về hành vi gây lãng phí gồm: 1. Hành vi gây lãng phí bao gồm các hành vi được quy định tại Điều 4 Luật số 110/2025/QH15 và các hành vi quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều này.

2. Hành vi gây lãng phí trong tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng lao động trong khu vực nhà nước bao gồm:

a) Thành lập, tổ chức lại cơ quan, tổ chức, đơn vị không đảm bảo điều kiện, tiêu chí, trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật, gây lãng phí;

b) Bố trí số lượng cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cấp phó của người đứng đầu phòng thuộc cơ quan, tổ chức, đơn vị vượt mức quy định, trừ trường hợp được phép bố trí số lượng cấp phó cao hơn theo quy định của pháp luật;

c) Giao biên chế không phù hợp với quy định pháp luật về căn cứ xác định biên chế công chức, gây lãng phí;

d) Tuyển dụng công chức, tiếp nhận vào làm công chức không đúng thẩm quyền, không căn cứ vào tỉ lệ công chức cần bố trí theo vị trí việc làm, chỉ tiêu biên chế và yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển, gây lãng phí;

đ) Ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ của công chức không đúng thẩm quyền, tiêu chuẩn, điều kiện, loại hợp đồng và thời hạn ký kết hợp đồng theo quy định, gây lãng phí;

e) Tuyển dụng viên chức không đúng thẩm quyền, không căn cứ vào nhu cầu thực tế, vị trí việc làm, quỹ tiền lương và nguồn thu hợp pháp khác của đơn vị sự nghiệp công lập, gây lãng phí;

g) Ký hợp đồng làm việc với viên chức không phù hợp với quy định của pháp luật, gây lãng phí;

h) Ký hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ không phù hợp với tính chất, yêu cầu nhiệm vụ, nguồn tài chính và nhu cầu về nguồn nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định, gây lãng phí;

i) Áp dụng chính sách tuyển chọn, thu hút, trọng dụng người có tài năng làm việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý không đúng quy định của pháp luật, gây lãng phí;

k) Điều động, luân chuyển, biệt phái công chức không căn cứ vào năng lực của công chức, nhu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, dẫn đến công chức được điều động, biệt phái không được bố trí, sử dụng hoặc công chức được luân chuyển không đạt mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ theo yêu cầu nhiệm vụ hoặc theo yêu cầu của chức danh được quy hoạch, gây lãng phí;

l) Đào tạo, bồi dưỡng không căn cứ vào vị trí việc làm gắn với công tác sử dụng, quản lý công chức phù hợp với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực, gây lãng phí.

3. Hành vi cố ý đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng tài sản công, vốn đầu tư công không đúng quy định dẫn đến kéo dài thời gian, tiến độ thực hiện dự án so với thời gian, tiến độ đã được phê duyệt.

4. Hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng bao gồm:

a) Khai thác nước vượt hạn ngạch đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định gây ra hạn hán, thiếu nước;

b) Phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư dự án có sử dụng đất không đảm bảo điều kiện về năng lực dẫn đến đất để thực hiện dự án đầu tư không được sử dụng hoặc tiến độ sử dụng đất chậm so với thời hạn ghi trong dự án đầu tư, thuộc trường hợp phải thu hồi đất theo quy định pháp luật đất đai.

5. Tổ chức, cá nhân có hành vi gây lãng phí được xem xét loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm theo quy định tại khoản 3 Điều 37 Luật số 110/2025/QH15 và quy định pháp luật có liên quan.

 Quang cảnh Hội nghị công bố quyết định kiểm tra công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tại tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh minh họa)

Quang cảnh Hội nghị công bố quyết định kiểm tra công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tại tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh minh họa)

Xác định hậu quả của hành vi gây lãng phí

Về xác định hậu quả của hành vi gây lãng phí, theo Nghị định quy định: 1. Hành vi liên quan đến xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật số 110/2025/QH15 được xác định là gây lãng phí khi phát sinh một trong các hậu quả sau:

a) Gây thất thoát ngân sách nhà nước, tài sản công, làm tăng chi ngân sách nhà nước khi tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành trái chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước;

b) Không có cơ sở quản lý, khai thác, sử dụng nguồn lực do cố ý không ban hành hoặc chậm ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật về định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí.

2. Hành vi trong quản lý, sử dụng tài chính công quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật số 110/2025/QH15 được xác định là gây lãng phí khi phát sinh một trong các hậu quả sau:

a) Gây thất thoát ngân sách nhà nước, nguồn vốn của quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách;

b) Làm tăng chi ngân sách nhà nước.

3. Hành vi trong quản lý, sử dụng vốn đầu tư công quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 4 Điều 4 Luật số 110/2025/QH15 được xác định là gây lãng phí khi phát sinh một trong các hậu quả sau:

a) Gây thất thoát ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên quốc gia;

b) Làm tăng chi ngân sách nhà nước do thực hiện các hành vi quy định tại các điểm b, d và đ khoản 4 Điều 4 Luật số 110/2025/QH15;

c) Phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để phá dỡ công trình xây dựng hình thành từ dự án đầu tư;

d) Kéo dài thời gian, tiến độ thực hiện dự án so với thời gian, tiến độ đã được phê duyệt.

4. Hành vi trong đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, quản lý, sử dụng tài sản công quy định tại điểm d, e, g, h, i và k khoản 4 Điều 4 Luật số 110/2025/QH15 được xác định là gây lãng phí khi phát sinh một trong các hậu quả sau:

a) Tài sản công được đầu tư xây dựng, mua sắm, giao vượt định mức, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật (vượt diện tích đối với trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; vượt số lượng, mức giá đối với xe ô tô, máy móc, thiết bị và tài sản công khác mà pháp luật quy định về số lượng, mức giá);

b) Tài sản công bị hư hỏng, thất thoát, hao hụt vượt định mức theo quy định;

c) Tài sản công là trụ sở làm việc không được đưa vào sử dụng liên tục quá 12 tháng; đối với tài sản công khác, thời hạn không được đưa vào sử dụng thực hiện theo quy định pháp luật có liên quan;

d) Phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để bảo quản, bảo vệ, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa do không xử lý kịp thời đối với tài sản công không sử dụng được;

đ) Phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để xử lý, khôi phục, bồi thường thiệt hại.

5. Hành vi trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật số 110/2025/QH15 được xác định là gây lãng phí khi phát sinh một trong các hậu quả sau:

a) Gây thất thoát ngân sách nhà nước, tài nguyên, năng lượng;

b) Làm tăng tổng mức kinh phí giải phóng mặt bằng so với phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt do thực hiện dự án chậm so với tiến độ đã được phê duyệt xuất phát từ nguyên nhân chủ quan;

c) Làm giảm thu ngân sách nhà nước;

d) Phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để phục hồi tài nguyên bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm hoặc bị mất đi;

đ) Phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để xử lý công trình xây dựng hình thành trên đất;

e) Phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để xử lý, khôi phục cơ sở dữ liệu số do quản lý, sử dụng trái quy định;

g) Đất không được trả lại theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

h) Đất để thực hiện dự án đầu tư không được sử dụng hoặc tiến độ sử dụng đất chậm so với thời hạn ghi trong dự án đầu tư, thuộc trường hợp phải thu hồi đất theo quy định pháp luật đất đai.

6. Hành vi trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước trong các dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư quy định tại điểm a và điểm b khoản 6 Điều 4 Luật số 110/2025/QH15 được xác định là gây lãng phí khi phát sinh một trong các hậu quả sau:

a) Làm tăng phần vốn nhà nước tham gia hoặc phát sinh các nghĩa vụ tài chính khác của Nhà nước;

b) Phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để phá dỡ công trình xây dựng hình thành từ dự án;

c) Công trình hình thành từ dự án đầu tư xây dựng không thể nghiệm thu, bàn giao dự án để đi vào sử dụng theo quy định tại hợp đồng dự án, quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư.

7. Hành vi trong quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp quy định tại điểm c, d, đ và e khoản 6 Điều 4 Luật số 110/2025/QH15 được xác định là gây lãng phí khi phát sinh một trong các hậu quả sau:

a) Thất thoát, mất vốn nhà nước tại doanh nghiệp;

b) Thất thoát phần lợi nhuận phải nộp vào ngân sách nhà nước do trích lập các quỹ không đúng mục đích, chế độ do cấp có thẩm quyền ban hành.

8. Hành vi trong tổ chức bộ máy và quản lý, sử dụng lao động trong khu vực nhà nước quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này được xác định là gây lãng phí khi làm tăng chi ngân sách nhà nước.

9. Hành vi trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật số 110/2025/QH15 được xác định là gây lãng phí khi để xảy ra các hành vi thuộc phạm vi trực tiếp lãnh đạo, quản lý hoặc phân công phụ trách sau đây:

a) Hành vi quy định tại khoản 1, 3, 4, 5 và 6 Điều 4 Luật số 110/2025/QH15, khoản 2 Điều 4 Nghị định này gắn với hậu quả quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này;

b) Hành vi quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 4 Nghị định này.

Hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí

Mặt khác, Nghị định cũng quy định về hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí. Cụ thể, vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí là các nhóm hành vi quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật số 110/2025/QH15, bao gồm các hành vi cụ thể sau đây:

 Một buổi công bố Quyết định kiểm tra công tác phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; công tác quản lý, sử dụng kinh phí, tài sản công tại một đơn vị Viện kiểm sát.

Một buổi công bố Quyết định kiểm tra công tác phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; công tác quản lý, sử dụng kinh phí, tài sản công tại một đơn vị Viện kiểm sát.

1. Hành vi vi phạm về thời hạn ban hành, nội dung của Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí:

a) Không ban hành hoặc ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí không đúng thời hạn quy định;

b) Ban hành Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí không đảm bảo đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật.

2. Hành vi vi phạm trong thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí đã ban hành:

a) Không tổ chức thực hiện, tổ chức thực hiện không đầy đủ các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí;

b) Tổ chức thực hiện không đúng tiến độ các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí;

c) Không phân công trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ, chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp, giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí.

3. Hành vi vi phạm về thời hạn, nội dung báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí:

a) Không thực hiện báo cáo hoặc báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí không đúng thời hạn quy định;

b) Báo cáo kết quả công tác tiết kiệm, chống lãng phí không đảm bảo đầy đủ nội dung, yêu cầu theo quy định của pháp luật;

c) Cố ý báo cáo không chính xác, không trung thực kết quả, số liệu liên quan đến công tác tiết kiệm, chống lãng phí.

4. Hành vi vi phạm về cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí:

a) Không cập nhật thông tin hoặc cập nhật không đầy đủ dữ liệu vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí;

b) Cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí không đúng thời hạn quy định;

c) Cố ý cập nhật thông tin, dữ liệu không chính xác, không trung thực.

5. Hành vi vi phạm về thời hạn, nội dung và hình thức công khai về tiết kiệm, chống lãng phí:

a) Không thực hiện công khai nội dung về tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định;

b) Công khai không đúng thời hạn, hình thức, không đầy đủ nội dung phải công khai theo quy định;

c) Cố ý công khai không chính xác, không trung thực nội dung về tiết kiệm, chống lãng phí.

6. Hành vi vi phạm trong việc lấy ý kiến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trước khi quyết định đối với các biện pháp tiết kiệm, chống lãng phí tại cơ quan, tổ chức, đơn vị theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

7. Hành vi cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong thanh tra, kiểm toán, kiểm tra tiết kiệm, chống lãng phí trong từng lĩnh vực của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về thanh tra, kiểm toán nhà nước và quy định pháp luật khác có liên quan.

8. Hành vi cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong kiểm tra việc chấp hành, tổ chức thực hiện quy định pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền:

a) Không cung cấp hoặc cung cấp hồ sơ, tài liệu không đầy đủ, kịp thời, chính xác theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra;

b) Không bố trí người có trách nhiệm làm việc, không tham gia làm việc hoặc trì hoãn làm việc với cơ quan kiểm tra mà không có lý do chính đáng;

c) Không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ quyết định, yêu cầu, kết luận kiểm tra;

d) Không theo dõi, đôn đốc tình hình thực hiện kết luận kiểm tra;

đ) Hành vi cản trở người thi hành công vụ khác theo quy định của pháp luật.

9. Hành vi cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong xác minh, xử lý, giải quyết, tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo về tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định của pháp luật về tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo và quy định pháp luật khác có liên quan.

10. Hành vi vi phạm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí và người thân của người đấu tranh chống lãng phí (sau đây gọi là người thân) theo quy định của pháp luật về tố cáo, tố tụng hình sự.

11. Hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí:

a) Không ban hành hướng dẫn tổ chức Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí;

b) Không triển khai hoặc triển khai Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí không đúng với nguyên tắc, nội dung, hình thức quy định tại Điều 8 và Điều 9 Nghị định này.

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định về Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí. Theo đó, Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí được tổ chức hằng năm vào ngày 31 tháng 5, bảo đảm phù hợp với nguyên tắc, nội dung, hình thức quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Nghị định này.

Việc tổ chức Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí phải bảo đảm tiết kiệm, thiết thực, hiệu quả; ưu tiên triển khai trên môi trường điện tử; ưu tiên lồng ghép hoạt động triển khai Ngày toàn dân tiết kiệm, chống lãng phí với các hoạt động khác theo chức năng, nhiệm vụ, địa bàn quản lý, đảm bảo tập trung, tránh dàn trải, phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Đồng thời, bảo đảm công khai, minh bạch trong việc tổ chức thực hiện của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026. Nghị định số 84/2014/NĐ-CP ngày 8/9/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

P.V

Nguồn BVPL: https://baovephapluat.vn/chong-tham-nhung-lang-phi/nhung-hanh-vi-gay-lang-phi-va-xac-dinh-hau-qua-cua-hanh-vi-gay-lang-phi-201983.html