Sau giai đoạn lợi nhuận chịu áp lực bởi chi phí vốn, thu nhập phí suy giảm và tăng trích lập dự phòng, Ngân hàng Eximbank (EIB) đang bước vào giai đoạn tái định vị với nhiều chuyển động đáng chú ý.
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu là gì? Tìm hiểu cách tính, ý nghĩa của chỉ số LLR, mức bao phủ nợ xấu bao nhiêu là tốt và tác động đến sức khỏe tài chính ngân hàng.
Diễn biến chất lượng tài sản trong quý I/2026 đang trở thành biến số được thị trường theo dõi đối với triển vọng lợi nhuận ngân hàng, khi nợ xấu, nợ nhóm 2 và lãi, phí phải thu tăng tại nhiều ngân hàng trong bối cảnh tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm. Đáng chú ý, một số trường hợp như TPBank, Bac A Bank, VietBank hay PGBank đồng thời ghi nhận nhiều chỉ tiêu biến động cùng chiều, trong khi Sacombank, Saigonbank tiếp tục nằm trong nhóm có tỷ lệ nợ xấu hoặc nợ cần chú ý ở mức cao của hệ thống…
Phân tích tỷ lệ nợ xấu ngân hàng quý I/2026: Vietcombank dẫn đầu về chất lượng tài sản, Sacombank và NCB chịu áp lực lớn, bộ đệm dự phòng phân hóa mạnh.
Chứng khoán CSI nhận định, tỷ suất sinh lời của cổ phiếu TCB sẽ đạt khoảng 17% trong 2026, ở mức 44.240 đồng/ cp.
Để đối phó với áp lực nợ xấu đang gia tăng mạnh mẽ, nhiều nhà băng đã chấp nhận kịch bản lợi nhuận sụt giảm sâu để dồn lực trích lập dự phòng, chuyển dịch chiến lược từ 'tấn công' sang 'phòng thủ' toàn diện.
Áp lực thanh khoản toàn hệ thống đẩy lãi suất duy trì ở mức cao cùng các yếu tố bất lợi từ môi trường quốc tế đã làm phân hóa mạnh chất lượng tài sản và kết quả kinh doanh giữa các nhóm quy mô…
Sau giai đoạn căng thẳng 2024–2025, tỷ lệ nợ xấu (NPL) toàn ngành ngân hàng đầu 2026 đã hạ về khoảng 1,99%, thấp hơn đáng kể so với đỉnh năm 2024. Tuy nhiên, tổng nợ xấu của các ngân hàng niêm yết vẫn tăng lên khoảng 292,2 nghìn tỷ đồng, mức cao nhất từ trước tới nay.
Phân tích cấu trúc tài sản 27 ngân hàng niêm yết quý I/2026: tín dụng vẫn là lõi, nhưng chứng khoán, thanh khoản và tài sản khác cho thấy sự phân hóa mạnh.
Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Báo cáo tài chính quý 1/2026 của ACB cho thấy nợ cần chú ý tăng gần gấp đôi so với đầu năm, trong bối cảnh ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng và đối mặt áp lực chi phí vốn ngắn hạn.
Theo phân tích của VDSC, bức tranh kinh doanh quý I/2026 của ngành ngân hàng ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực như tăng trưởng tín dụng duy trì khả quan, thu nhập ngoài lãi cải thiện mạnh và lợi nhuận toàn ngành tiếp tục tăng trưởng hai chữ số. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản, chi phí vốn gia tăng cùng xu hướng nợ xấu bật tăng trở lại là những yếu tố cần theo dõi sát.
Quý đầu năm 2026, Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) cho thấy bức tranh kinh doanh có nhiều điểm sáng về tăng trưởng lợi nhuận, quy mô tín dụng và huy động vốn, nhưng đồng thời vẫn tồn tại những áp lực đáng chú ý liên quan đến chất lượng tài sản, chi phí dự phòng và hiệu quả hoạt động cốt lõi.
Tổng thu nhập lãi thuần của ngành ngân hàng đạt hơn 150.000 tỷ đồng trong quý I/2026, tăng 16,6% so với cùng kỳ nhờ tăng trưởng tín dụng duy trì tích cực. Dù vậy, biên lãi thuần (NIM) tiếp tục thu hẹp khi chi phí vốn tăng nhanh hơn lợi suất cho vay, trong bối cảnh huy động vốn vẫn tăng chậm và áp lực dự phòng có dấu hiệu gia tăng trở lại.
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) vừa tổ chức thành công Hội nghị kết quả kinh doanh quý I/2026 với lợi nhuận trước thuế đạt 11.100 tỷ đồng, tăng 63,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Theo VNDirect, tỷ lệ hình thành nợ xấu đang có dấu hiệu gia tăng trở lại trong quý I/2026 cho thấy rủi ro về chất lượng tài sản vẫn còn hiện hữu, đặc biệt ở nhóm ngân hàng vừa và nhỏ như PGBank, Bac A Bank, Saigonbank, Vietbank với tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh.
Quý 1/2026 chứng kiến bức tranh phân hóa mạnh của ngành ngân hàng khi lợi nhuận tiếp tục tăng trưởng, tín dụng tăng tốc trở lại nhưng áp lực nợ xấu, huy động vốn và chất lượng tài sản cũng bắt đầu nóng lên rõ rệt...
Việc siết tiêu chuẩn tín dụng với các dự án bất động sản rủi ro cao, cùng nỗ lực tháo gỡ vướng mắc pháp lý cho các dự án khó khăn và hoàn thiện khung pháp lý xử lý nợ xấu sẽ hỗ trợ hệ thống ngân hàng kiểm soát tốt hơn áp lực nợ xấu trong thời gian tới...
Theo chuyên gia Nguyễn Thế Minh, ngân hàng nào kiểm soát rủi ro tốt hơn sẽ có lợi thế lớn hơn trong giai đoạn nợ xấu gia tăng.
Áp lực nợ xấu đang gia tăng trong bối cảnh thị trường tài chính - tiền tệ biến động mạnh. Nếu không được kiểm soát hiệu quả, nợ xấu có thể trở thành điểm nghẽn đối với tăng trưởng kinh tế, ảnh hưởng đến khả năng cung ứng vốn cho doanh nghiệp và niềm tin của thị trường. Vì vậy, việc xử lý nợ xấu cần được triển khai đồng bộ, với các giải pháp đủ mạnh và sự vào cuộc kịp thời của các bên liên quan.
Trong bối cảnh biên lãi thuần (NIM) thu hẹp và cạnh tranh tín dụng ngày càng lớn, nhiều ngân hàng đang chuyển hướng sang khai thác hệ sinh thái tài chính để mở rộng nguồn thu. Từ thanh toán, bảo hiểm đến đầu tư, một dòng tiền hiện nay không chỉ tạo ra lợi nhuận từ cho vay, mà còn được khai thác qua nhiều lớp dịch vụ khác nhau.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý I/2026 đạt 11.803 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước, tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu ngành ngân hàng về hiệu quả hoạt động và chất lượng tài sản.
Thay vì ưu tiên lợi nhuận ngắn hạn, nhiều nhà băng chủ động tăng mạnh trích lập dự phòng nhằm củng cố 'bộ đệm' tài chính, nâng cao khả năng chống chịu trước rủi ro tín dụng và chuẩn bị cho giai đoạn biến động mới của thị trường.
Quý 1/2026, Vietcombank tiếp tục ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận và tín dụng tích cực. Tuy nhiên, nợ nghi ngờ tại ngân hàng này tăng hơn 7 lần chỉ sau một quý, kéo theo chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh trong bối cảnh áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu.
Quý I/2026, Vietcombank tiếp tục dẫn đầu lợi nhuận, VietinBank đứng thứ hai, nhiều ngân hàng lớn như MB, Techcombank, VPBank tăng trưởng tích cực.
Nhìn chung, với mặt bằng lãi suất đang cho dấu hiệu bình ổn gần vùng kỳ vọng cho cả năm 2026, MAS đánh giá tỷ lệ nợ xấu có thể tăng tiếp nhưng không quá đáng kể trong ngắn hạn đối với nhóm có chất lượng tín dụng cao trong khi các ngân hàng tầm trung sẽ tập trung xử lý nợ xấu.
Triển vọng ngành ngân hàng tiếp tục được giới chuyên gia nhìn nhận theo hướng tích cực, nhưng đi kèm sự phân hóa lợi nhuận ngày càng sâu sắc.
VnDirect kỳ vọng NIM toàn ngành sẽ dần cải thiện vào cuối năm khi mặt bằng lãi suất có xu hướng hạ nhiệt và hoạt động thu hồi nợ thường tích cực hơn trong nửa cuối năm. Theo đó, kỳ vọng NIM toàn ngành năm 2026 sẽ duy trì quanh mức 3,1%.
Cuộc cạnh tranh CASA đang chuyển từ 'đua miễn phí' đến xây dựng chiến lược hệ sinh thái, công nghệ và khả năng giữ chân dòng tiền thực của khách hàng.
Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Lợi nhuận quý I/2026 của Saigonbank giảm 10% so với cùng kỳ, trong khi nợ xấu tăng mạnh lên 3,52%. Đáng chú ý, Saigonbank còn hơn 420 tỷ đồng nợ xấu tại VAMC chưa xử lý xong.
Dưới áp lực của các tiêu chuẩn an toàn vốn Basel II và Basel III, cuộc đua củng cố 'bệ đỡ' tài chính của các nhà băng Việt đang trở nên nóng hơn bao giờ hết.
Lợi nhuận quý I/2026 của MSB tăng trưởng hai chữ số, tuy nhiên bức tranh kinh doanh cho thấy sự phân hóa rõ nét khi thu nhập lãi khởi sắc, còn dịch vụ, ngoại hối và đầu tư đồng loạt đi lùi.
Tổng nợ xấu của Saigonbank tính đến cuối quý I tăng 20% so với đầu năm, lên hơn 779 tỷ đồng, chủ yếu do nhóm nợ dưới tiêu chuẩn tăng mạnh.
SHB ghi nhận kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực, trong đó, hoạt động dịch vụ trở thành điểm sáng khi lãi thuần đạt 1.288 tỷ đồng, tăng 291% so với cùng kỳ.
NIM (Net Interest Margin) là biên lãi ròng từ hoạt động cho vay – huy động của ngân hàng, đo bằng thu nhập lãi thuần (NII) chia cho tài sản sinh lãi bình quân trong kỳ. Nói đơn giản: NIM cho biết mỗi 100 đồng tài sản sinh lãi tạo ra bao nhiêu đồng lãi ròng từ lãi.
Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng 'lội ngược dòng'. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố 'bộ đệm' và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Cổ phiếu SBI của Ấn Độ giảm mạnh sau khi kết quả kinh doanh quý IV không đạt kỳ vọng, làm dấy lên lo ngại về áp lực lợi nhuận ngành ngân hàng.
CIR tăng trong quý đầu năm góp phần đưa tăng trưởng lợi nhuận của TPBank giảm tốc so với cùng kỳ, đạt 2.106 tỷ đồng. Trong khi đó, dư nợ xấu tăng 48,5% kéo tỷ lệ nợ xấu lên 1,86%, tăng mạnh so với quý IV/2025 dù vẫn nằm ở vùng thấp trong khoảng chục quý gần đây.
Dù tiếp tục duy trì lợi nhuận cao trong nhóm 4 ngân hàng Nhà nước lớn, báo cáo tài chính quý I-2026 của BIDV cho thấy, nhiều áp lực đáng chú ý khi tiền gửi khách hàng giảm mạnh, nợ xấu gia tăng và chi phí dự phòng rủi ro tiếp tục ở mức cao.
Nhiều ngân hàng đã có lợi nhuận giảm sâu so với cùng kỳ năm trước, mức giảm lên tới gần 60 - 70%.
Tại thời điểm ngày 31/3/2026, VIB có bình quân 10.140 cán bộ, nhân viên, đã giảm 1.418 người so với cùng kỳ. Trong đó, thu nhập bình quân của nhân viên đạt 37,97 triệu đồng/người/tháng.
Nhiều ngân hàng công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với mức tăng trưởng lợi nhuận tích cực, song vẫn có một số nhà băng ghi nhận lợi nhuận sụt giảm mạnh. Thực tế, khá nhiều ngân hàng quy mô vừa phải đang bước vào giai đoạn tăng trưởng không đồng đều, khi áp lực dự phòng, chi phí vốn và biến động kinh tế toàn cầu bắt đầu bào mòn lợi nhuận của nhiều tổ chức.
Ngành ngân hàng ghi nhận lợi nhuận quý 1 tăng trưởng nhưng phân hóa mạnh, nhấn mạnh sự chuyển đổi sang tăng trưởng bền vững và đa dạng nguồn thu.
Trong 3 tháng đầu năm 2026, SHB ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước.
Trong cơ cấu nợ xấu của PGBank, nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) tăng gấp 4 lần, lên 857,8 tỷ đồng, chiếm 48% tổng nợ xấu. Nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng 27%, đạt 329,9 tỷ đồng.
Quý 1/2026, Sacombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế chỉ còn hơn 2.100 tỷ đồng, giảm 43% so với cùng kỳ do mạnh tay trích lập dự phòng rủi ro. Trong khi đó, tổng nợ xấu nội bảng tăng lên hơn 41.000 tỷ đồng, chủ yếu nằm ở nhóm nợ có khả năng mất vốn.
Trong quý I/2026, PGBank báo lãi trước thuế 275 tỷ đồng, gấp gần 3 lần cùng kỳ, một phần nhờ trích lập dự phòng giảm 54%. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu do vậy giảm xuống 31%, lọt top thấp nhất ngành trong khi tỷ lệ nợ xấu vượt 4%, cao nhất hàng chục quý.
Dù tổng lợi nhuận toàn ngành tăng trưởng 14% nhưng bức tranh kinh doanh quý đầu năm ghi nhận sự phân hóa rệt giữa những nhà băng bứt phá kỷ lục và các đơn vị chấp nhận giảm lãi để ưu tiên xử lý nợ xấu.
Tính đến cuối tháng 3/2026, Ngân hàng Sacombank và các công ty con còn 14.080 nhân viên, giảm 2.736 người so với cuối năm 2025.
Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
Kết thúc quý I/2026, SACOMBANK báo lợi nhuận trước thuế 2.106 tỷ đồng, giảm 42,7% so với cùng kỳ năm 2025 trong bối cảnh ngân hàng chủ động tăng mạnh trích lập dự phòng rủi ro.