'Nút thắt' huy động vốn cho khoa học công nghệ: Chính sách có, thực thi vẫn khó

Theo PGS, TS Vũ Sỹ Cường - chuyên gia hàng đầu về tài chính công và quản lý ngân sách nhà nước, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học công nghệ, từ ưu đãi thuế đến cơ chế quỹ. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế còn hạn chế.

Nguồn lực hạn chế, chi cho khoa học công nghệ chưa đạt kỳ vọng

Tại Diễn đàn kinh tế Việt Nam 2026 ngày 25/3 tại Hà Nội, PGS, TS Vũ Sỹ Cường - Giảng viên cao cấp của Học viện Tài chính, chuyên gia hàng đầu về tài chính công và quản lý ngân sách nhà nước cho rằng, là quốc gia đang phát triển, Việt Nam bị hạn chế nguồn lực dành cho mọi lĩnh vực, kể cả đổi mới sáng tạo.

Nguồn lực cho mô hình tăng trưởng mới hiện được hình thành từ ba trụ cột: ngân sách Nhà nước, khu vực doanh nghiệp và thị trường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cả ba nguồn này đều chưa được khai thác hiệu quả.

Mặc dù từ năm 1992, Nghị quyết của Bộ Chính trị đã yêu cầu chi tối thiểu 2% ngân sách cho khoa học công nghệ, nhưng đến nay Việt Nam chưa từng đạt mức này. Có năm cao nhất chỉ xấp xỉ 1,98%, còn nhiều năm chỉ quanh mức 1%.

“Khi chủ thể dẫn dắt là Nhà nước còn chưa thực hiện được, việc kỳ vọng vào doanh nghiệp và thị trường sẽ ra sao?", chuyên gia trăn trở.

Không chỉ vậy, chi cho nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp hiện chỉ khoảng 0,2% GDP; tổng chi quốc gia cho khoa học công nghệ khoảng 0,44% GDP - mức thấp so với nhiều quốc gia khác. Dù tổng chi có xu hướng tăng, nhưng nếu loại trừ lạm phát, mức tăng thực gần như không đáng kể.

Chính sách có nhưng khó đi vào thực tế

PGS, TS Vũ Sỹ Cường - chuyên gia hàng đầu về tài chính công và quản lý ngân sách nhà nước.

PGS, TS Vũ Sỹ Cường - chuyên gia hàng đầu về tài chính công và quản lý ngân sách nhà nước.

Khoảng cách giữa chủ trương và triển khai thực hiện được đánh giá là một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay.

Theo PGS, TS Vũ Sỹ Cường, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học công nghệ, từ ưu đãi thuế đến cơ chế quỹ, nhưng hiệu quả mang lại vẫn còn hạn chế.

Ví dụ, quy định cho phép doanh nghiệp trích tối đa 10% thu nhập trước thuế để lập Quỹ phát triển khoa học công nghệ và được miễn thuế, nhưng trên thực tế, rất ít doanh nghiệp sử dụng.

"Nguyên nhân chủ yếu đến từ thủ tục phức tạp và khó triển khai. Có doanh nghiệp trích lập quỹ rồi nhưng không biết chi thế nào vì quy trình quá rườm rà”, ông Cường nêu.

Không chỉ vậy, việc tiếp cận các ưu đãi thuế cho hoạt động khoa học công nghệ cũng không dễ dàng. Việc xác định chi phí hợp lệ còn nhiều vướng mắc, khiến nhiều doanh nghiệp gần như không tiếp cận được chính sách. Ngay cả trong lĩnh vực chuyển đổi số, nhiều thủ tục cơ bản vẫn chưa thông suốt. Điều này phản ánh rõ những hạn chế trong khâu tổ chức thực hiện.

“Vấn đề không nằm ở chủ trương. Các nghị quyết đều đúng. Cái khó là thực thi trong thực tiễn”, PGS, TS Vũ Sỹ Cường nhìn nhận.

Một thực tế khác là hệ thống các quỹ hỗ trợ khoa học công nghệ dù đa dạng, nhưng tỷ lệ giải ngân lại rất thấp. Theo phân tích, nguyên nhân không chỉ nằm ở thủ tục, mà còn ở tâm lý e ngại rủi ro và trách nhiệm pháp lý của người thực thi.

Theo chuyên gia, cần khơi thông dòng vốn cho khoa học, công nghệ.

Theo chuyên gia, cần khơi thông dòng vốn cho khoa học, công nghệ.

Trong khi đó, đầu tư cho khoa học công nghệ vốn dĩ phải chấp nhận rủi ro. Nghị định mới về quỹ đầu tư mạo hiểm đã bước đầu tháo gỡ khi cho phép chấp nhận mức tổn thất nhất định và miễn trách nhiệm trong trường hợp rủi ro khách quan.

Tuy nhiên, theo ông Cường, việc xác định “nguyên nhân khách quan” trên thực tế không hề đơn giản, khiến cán bộ vẫn dè dặt trong quá trình giải ngân.

“Nếu không chấp nhận rủi ro và vẫn nặng tâm lý trách nhiệm, thì rất khó khơi thông dòng vốn cho khoa học công nghệ”, ông nhận định.

Cần chính sách cụ thể

Từ thực tiễn trên, PGS, TS Vũ Sỹ Cường cho rằng trọng tâm chính sách hiện nay không chỉ dừng ở định hướng vĩ mô, mà cần đi vào cụ thể, chi tiết trong từng khâu triển khai.

Trước hết, cần thực hiện đúng cam kết chi tối thiểu 2% ngân sách cho khoa học công nghệ, đồng thời tháo gỡ các rào cản trong quy trình từ khâu đề xuất, xét duyệt đến giải ngân.

Đặc biệt, cần thay đổi cách tiếp cận trong quản lý, theo hướng chấp nhận rủi ro và hạn chế hình sự hóa trong hoạt động khoa học công nghệ.

“Ở nhiều quốc gia, sai sót trong nghiên cứu không bị xử lý hình sự nếu không có yếu tố trục lợi cá nhân. Cách tiếp cận này giúp khuyến khích đổi mới sáng tạo”, chuyên gia dẫn chứng.

Bên cạnh đó, để thúc đẩy khu vực doanh nghiệp, chính sách cần cởi mở hơn, như cho phép chuyển lỗ trong hoạt động nghiên cứu phát triển sang các năm sau để khấu trừ thuế - một cơ chế phổ biến ở nhiều nước nhưng còn hạn chế tại Việt Nam.

Ngoài ra, các nghị quyết cần được cụ thể hóa bằng hệ thống pháp luật và văn bản dưới luật rõ ràng, khả thi hơn, tránh tình trạng “định hướng đúng nhưng không làm được”.

“Vấn đề không phải là thiếu định hướng, mà là thiếu cơ chế minh bạch và khả thi để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho khoa học công nghệ", PGS, TS Vũ Sỹ Cường nhấn mạnh.

Nguyệt Minh

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/cong-nghe/-nut-that-huy-dong-von-cho-khoa-hoc-cong-nghe-chinh-sach-co-thuc-thi-van-kho/20260326100124573