Qua giông bão, người lính trở về làng biển: Bài 2: 'Nếu kiên định thì chúng ta sẽ thắng'

Từng theo học ngành máy tàu để chuẩn bị cho những hải trình vươn khơi, song bước ngoặt lịch sử đã đưa ông Bùi Nguyên Thụ đi qua những chặng đường gian khổ nhất của tuổi trẻ: chiến trường khốc liệt và gần 4 năm bị giam cầm sau hàng rào thép gai. Không có giấy bút, ông giữ những câu thơ trong trí nhớ rồi chắp nối lại sau ngày trở về. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, những trang giấy ngả màu vẫn lưu giữ ký ức về những con người, địa danh và mốc thời gian ông không thể quên.

Ông Bùi Nguyên Thụ xem lại những bức ảnh thời quân ngũ được gìn giữ qua hơn nửa thế kỷ.

Ông Bùi Nguyên Thụ xem lại những bức ảnh thời quân ngũ được gìn giữ qua hơn nửa thế kỷ.

Những vần thơ theo chân người lính từ giảng đường đến nhà tù Phú Quốc

Trên chiếc bàn gỗ nhỏ, ông Bùi Nguyên Thụ chậm rãi mở tập thơ đã ố vàng. Xen giữa những trang giấy kẻ ô vuông bằng tay là vài bức ảnh cũ của người lính thời trẻ. Ngón tay ông dừng ở những địa danh đã theo mình hơn nửa thế kỷ: Hòa Cầm, Non Nước, Phú Quốc... Có bài mang mốc cuối tháng 5/1969, có bài được nhớ lại từ những mùa xuân năm 1970, 1971.

“Thơ tôi viết không hay”, ông tự nhận ngay từ trang đầu. Ông không xem mình là thi sĩ. Tập thơ chỉ là cách giữ lại những khoảnh khắc ông tưởng không thể gượng dậy và sức mạnh tìm thấy ở đồng đội.

Trước chiến tranh, Bùi Nguyên Thụ đang học năm thứ hai Trường Trung cấp Thủy sản Trung ương I tại Hải Phòng. Chàng trai 24 tuổi từng hình dung tương lai sẽ gắn với những chuyến biển. Năm 1967, ông cùng 35 học sinh khác gác lại giáo trình để khoác áo lính. Ông đi mà gia đình ở quê không biết. Khi đoàn tàu dừng ít phút ở ga Thanh Hóa, người lính mới có cơ hội gửi về nhà lá thư viết sẵn. Đang tìm người nhờ chuyển giúp, ông bất ngờ gặp người cậu của mẹ. Mẹ mất khi ông mới lên 4 tuổi. Nhìn thấy cháu trong bộ quân phục chuẩn bị vào chiến trường, người cậu rơm rớm nước mắt. Tiếng còi tàu thúc giục. Bùi Nguyên Thụ trao vội lá thư, chạy theo rồi nhảy lên toa khi đoàn tàu bắt đầu chuyển bánh. Đó là lá thư duy nhất ông gửi về quê mà gia đình nhận được trong những năm chiến tranh.

Từ một học sinh kỹ thuật máy tàu, Bùi Nguyên Thụ được đào tạo thành y tá, biên chế tại Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 31, Mặt trận 44, chiến đấu trên địa bàn Quảng Nam - Đà Nẵng. Ông tham gia trận đánh tại Phước Tường và nhiều chuyến công tác ở Sơn Trà, Hòa Vang.

Tháng 5/1969, trong một chuyến công tác tại xã Hòa Bình, huyện Hòa Vang, ông bị bắt. Từ đó, ông bước vào một cuộc đấu tranh khác: chống chọi với đòn roi, sự dụ dỗ và nguy cơ đánh mất chính mình.

Ông Bùi Nguyên Thụ kể lại những trận tra tấn, những ngày tuyệt thực và cuộc sống dưới mái tôn bỏng rát tại Trại tù binh Phú Quốc.

Ông Bùi Nguyên Thụ kể lại những trận tra tấn, những ngày tuyệt thực và cuộc sống dưới mái tôn bỏng rát tại Trại tù binh Phú Quốc.

Những ngày đầu ở Hòa Cầm rồi Non Nước được ông giữ lại trong bài Tự sự: “Không vũ khí chỉ hai bàn tay trắng/ Nếu kiên định thì chúng ta sẽ thắng"...

Trước mặt ông là tra điện, báng súng và nước xà phòng bị dội vào mũi. Cuộc đấu tranh tiếp diễn trong từng lần chịu đòn, từng câu trả lời.

Nhưng càng bị dồn đến giới hạn, ông càng hiểu điều cuối cùng phải bảo vệ là “tư cách đàng hoàng” và “tấm lòng trong sạch”. Có lần, từ nơi bị giam ở Non Nước, ông cùng những người trong phòng nhìn thấy lá cờ giải phóng thấp thoáng trên Ngũ Hành Sơn. Chỉ một thoáng màu cờ cũng đủ khiến cả phòng xao động, bởi họ biết cuộc chiến vẫn tiếp diễn và mình chưa bị lãng quên.

Trong bài “Vá áo”, ông kể chiếc áo tù rách phải vá bằng mảnh vải màn thưa: “Áo tù rách vá vải màn/ Màn thưa áo mụn biết làm được chi/ Rách lành ta có sá gì/ Ta vì người sạch chứ vì áo đâu". Bốn câu thơ mộc mạc giữ lại một cách nghĩ đã nâng đỡ ông: áo có thể rách, thân thể có thể chịu đòn, nhưng phần trong sạch của con người không được phép mất đi.

Các bài Vá áo, Tự sự và Thấy cờ giải phóng trong tập thơ được ông Bùi Nguyên Thụ chắp nối từ trí nhớ sau ngày trở về.

Các bài Vá áo, Tự sự và Thấy cờ giải phóng trong tập thơ được ông Bùi Nguyên Thụ chắp nối từ trí nhớ sau ngày trở về.

Tháng 11/1969, Bùi Nguyên Thụ bị đưa ra Trại tù binh Phú Quốc. Trong ký ức ông, hòn đảo hiện lên với rừng cây xám lại, mặt biển loang vệt đen của tàu chiến và những gò đất chôn xương người. Ở khu D4, mái tôn phòng giam có một lỗ thủng. Trời mưa, nước dội xuống nền; trời nắng, vệt sáng xuyên qua mái, rọi thẳng vào chỗ nằm. Những người trong phòng còn tính được rằng, từ tháng 5 đến tháng 9, vệt nắng ấy ngày nào cũng quét qua mình: “Ngoài tôn nóng quá đốt người ta sao?/ Tháng năm như thét, như gào trong ta"...

Dưới mái tôn bỏng rát, cái chết luôn hiện diện. Một người bạn tù tên Lành bị bắn trong đêm, chỉ còn lại chiếc áo xanh và đôi dép cũ. Những vật nhỏ ấy trở thành phần còn lại của một đời người.

Giữ vững khí tiết người cách mạng

Cuộc tuyệt thực kéo dài chín ngày vào tháng 5/1972 là sự kiện ông Thụ nhớ rõ nhất. Ông trực tiếp nhịn ăn, nhịn uống đến những giờ phút cuối cùng.

Sự việc bắt đầu sau khi 16 tù binh bị đưa đi lao động. Anh em yêu cầu trả họ về, đồng thời chấm dứt việc cưỡng ép làm những công việc liên quan đến chính trị, quân sự và xúc phạm nhân phẩm. Đến ngày thứ ba, cái đói cồn cào, nhưng cơn khát còn dữ dội hơn. Nước uống cạn dần. Những người tuyệt thực phải chia nhau từng chút nước để cầm cự. Ngoài sân, thức ăn được đặt dưới nắng đến nóng rẫy, nhưng không ai bước ra nhận.

Hơn nửa thế kỷ đã qua, những năm tháng sau hàng rào thép ở Phú Quốc vẫn in trong ký ức cựu chiến binh Bùi Nguyên Thụ.

Hơn nửa thế kỷ đã qua, những năm tháng sau hàng rào thép ở Phú Quốc vẫn in trong ký ức cựu chiến binh Bùi Nguyên Thụ.

Ngày thứ bảy, đại diện phía trại xuống vận động. Những người tuyệt thực vẫn yêu cầu đưa 16 người trở lại và chỉ làm việc với người có thẩm quyền. Sang ngày thứ tám, một người tù 74 tuổi tại phòng thương binh qua đời. Phía quân cảnh định đưa thi thể đi, nhưng anh em không đồng ý. Giữa lúc đã kiệt sức, họ vẫn mong được tiễn biệt người tù già vừa đi hết một cuộc đời sau song sắt.

Chiều ngày thứ chín, một đoàn xe từ bộ chỉ huy đảo xuống trại, trong đó có ba cố vấn Mỹ. Đại diện tù binh nêu ba yêu cầu: đưa 16 người trở về; chấm dứt việc cưỡng ép liên quan đến chính trị, quân sự và nhân phẩm; bồi dưỡng sức khỏe cho những người đã tuyệt thực. Sau cuộc đối thoại, phía trại phải chấp nhận giải quyết. Chiếc xe chở 16 người dừng trước sân. Khi cửa mở, người khỏe dìu người yếu bước xuống. Những cánh tay đưa ra đón lấy nhau sau chín ngày chờ đợi.

Trong bản hồi ức, ông Thụ gọi đó là tình cảm của những người “cùng khổ”, thấm đượm và lắng sâu. Với những người tù Phú Quốc, chiến thắng hôm ấy là đưa được 16 đồng đội trở về và ngăn việc cưỡng bức lan sang những người khác. Sau chín ngày đói khát, họ đứng vững bởi không ai bỏ cuộc, cũng không ai bỏ lại người bên cạnh.

Sau Hiệp định Paris, Bùi Nguyên Thụ nằm trong diện được trao trả. Ngày 15/3/1973, đoàn của ông được đưa tới sân bay Phú Bài. Tự do đã ở rất gần, nhưng do hai bên chưa thống nhất một số nội dung trong quá trình bàn giao, tối hôm ấy, họ lại bị đưa quay trở lại. Đến ngày 16/3/1973, khoảng 150 người trong đoàn mới được trao trả. Khi kể lại khoảnh khắc ấy, ông chỉ nói: “Cảm xúc của chúng tôi lúc đó khó tả lắm”.

Thể trạng của ông khi ấy đã suy kiệt. Trên đường được chuyển về Đoàn an dưỡng 127 tại Quảng Ninh, ông phải vào Viện Quân y 7 ở Hải Dương điều trị. Theo trí nhớ của ông, cơ thể lúc ấy chưa đến 50 kg. Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục công tác rồi chuyển ngành về lĩnh vực thủy sản. Năm 1978, ông trở lại Thanh Hóa, làm việc tại Xí nghiệp Đánh cá biển Thanh Hóa và nghỉ hưu năm 1992.

Ông Bùi Nguyên Thụ bên những bằng khen, phần thưởng được gia đình trân trọng lưu giữ.

Ông Bùi Nguyên Thụ bên những bằng khen, phần thưởng được gia đình trân trọng lưu giữ.

Những người được trao trả ngày 16/3/1973 về sau vẫn tìm cách gặp lại nhau. Họ gặp để nhận ra người còn sống, nhắc tên người đã mất và nhớ những ngày cùng chịu đói, chịu khát ở Phú Quốc. Mỗi cuộc gặp lại thưa hơn lần trước. Tập thơ trên bàn vì thế không còn chỉ là câu chuyện riêng của Bùi Nguyên Thụ. Trong đó có anh Lành bị bắn chết trong đêm, người tù 74 tuổi qua đời giữa cuộc tuyệt thực, 16 người được đưa trở lại trại và những gương mặt nay đã vắng khỏi các cuộc gặp tháng ba.

Ông Thụ khép tập thơ. Bàn tay già dừng lại trên bài Vá áo, nơi người tù năm nào tự nhắc mình rằng áo rách hay lành không quan trọng bằng giữ “người sạch”. Giấy đã ngả màu, ảnh đã bạc, những năm tháng bị giam cũng lùi xa. Nhưng mỗi lần những trang giấy được mở ra, những người đã cùng ông đi qua Hòa Cầm, Non Nước và Phú Quốc lại trở về bằng một cái tên, một câu thơ hoặc một mốc thời gian.

Từ Hải Bình, ông ra đi với ước mong theo nghề biển. Sau chiến tranh và ngục tù, ông trở về quê hương, tiếp tục công việc còn dang dở của tuổi trẻ. Những câu thơ được mang về theo trí nhớ cũng ở lại cùng ông, lưu giữ không chỉ một phần ký ức chiến tranh khốc liệt mà còn là cách những người bị tước tự do đã nương tựa vào nhau để giữ phẩm giá, khí tiết cách mạng trong những năm bị địch bắt tù đày.

Tăng Thúy

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/qua-giong-bao-nguoi-linh-tro-ve-lang-bien-bai-2-neu-kien-dinh-thi-chung-ta-se-thang-295616.htm