Quốc hội thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi)
Sáng 24.8, trong khuôn khổ Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) với 471/472 ĐBQH có mặt tán thành (đạt 99,78%).

Sáng 24.8, Quốc hội thông qua nhiều Nghị quyết, dự án Luật quan trọng
Luật sửa đổi tập trung khắc phục những vướng mắc của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải và quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở, góp phần phòng ngừa tranh chấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, tăng cường đồng thuận trong cộng đồng dân cư và góp phần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) gồm 5 chương, 35 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1.3.2027.
Luật quy định nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở; hòa giải viên, tổ hòa giải, người được mời tham gia hòa giải, các bên trong hòa giải ở cơ sở; hoạt động hòa giải ở cơ sở; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hòa giải ở cơ sở.
Luật không áp dụng đối với hoạt động hòa giải của tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải lao động, hòa giải tại UBND xã, phường, đặc khu và hoạt động hòa giải được luật khác quy định.
Theo Luật, hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên và người được mời tham gia hòa giải (nếu có) hỗ trợ, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật ở cơ sở. Người được mời tham gia hòa giải là cá nhân hoặc đại diện cơ quan, tổ chức thực hiện việc tư vấn, hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia vụ, việc hòa giải cùng hòa giải viên.
Việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, trừ các trường hợp: Mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng theo quy định của pháp luật; Mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội theo quy định của pháp luật; Vi phạm pháp luật mà theo quy định bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật.
Luật quy định tiêu chuẩn của hòa giải viên gồm: là công dân Việt Nam cư trú tại cơ sở; có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư; có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật; không trong thời hạn xử lý kỷ luật, thi hành quyết định xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành án hình sự hoặc chưa được xóa án tích; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

