Quy tụ lòng dân trong bản đa dân tộc

ĐBP - Sau sắp xếp thôn, bản, bài toán đoàn kết các dân tộc ở Điện Biên đang đặt ra những yêu cầu mới. Nhiều cộng đồng trước đây tương đối đồng nhất nay trởthành những bản đa dân tộc, có nơi 7 - 8 dân tộc cùng chung sống. Khác biệt về ngôn ngữ, phong tục, tín ngưỡng… nếu thiếu sự thấu hiểu rất dễ tạo ra những khoảng cách vô hình, cản trở sự đoàn kết và phát triển. Đáng lo hơn, những khoảng cách ấy có thể bị khoét sâu, trở thành kẽ hở để thông tin sai lệch, luận điệu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Bởi vậy, bài toán đặt ra không phải là xóa bỏ sự khác biệt, mà là làm thế nào để các cộng đồng hiểu nhau hơn, tôn trọng sự khác biệt và cùng tìm được tiếng nói chung.

Bài 1: Khoảng cách vô hình

Cùng sống trong một bản, nhưng mỗi cộng đồng dân tộc lại có nếp nghĩ, cách ứng xử và phong tục riêng. Khác biệt từ tiếng nói, trang phục, nghi lễ, tín ngưỡng đến cách tổ chức đời sống, sản xuất khiến quá trình hòa nhập không phải lúc nào cũng diễn ra tự nhiên. Sau sắp xếp thôn, bản, khi nhiều dân tộc cùng chung một không gian sinh sống, những khác biệt ấy hiện diện rõ hơn trong từng sinh hoạt thường ngày. Lâu dần, những khoảng cách ấy có thể trở thành lực cản khiến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các nhiệm vụ phát triển ở địa phương khó đi vào cuộc sống.

Chung bản, khác nếp

Là tỉnh biên giới, tiếp giáp với Lào và Trung Quốc, Điện Biên có 19 dân tộc cùng sinh sống như: Mông, Thái, Kinh, Khơ Mú, Sán Chay, Hà Nhì, Phù Lá... Mỗi dân tộc có ngôn ngữ, phong tục, tập quán riêng. Người Mông gắn với núi cao, người Thái cư trú ven sông suối, người Dao có những phong tục, tín ngưỡng gắn với lửa... Chính sự đa dạng dân tộc ấy đã tạo nên sự phong phú văn hóa của Điện Biên, song cũng đặt ra yêu cầu phải hiểu nhau hơn khi các cộng đồng cùng sinh sống trong một không gian.

Một góc bản Huổi Lèng.

Một góc bản Huổi Lèng.

Bản Huổi Lèng, xã Mường Tùng được thành lập trên cơ sở sáp nhập bản Huổi Lèng và bản Ma Lù Thàng cũ, với 194 hộ dân. Trước sáp nhập, bản Huổi Lèng có 48 hộ, chủ yếu là người Xạ Phang, còn bản Ma Lù Thàng có 146 hộ, 100% là người Mông. Sau sáp nhập, hai dân tộc cùng bản, chung con đường, nhưng mỗi cộng đồng vẫn giữ những nét riêng về tiếng nói, phong tục, tập quán. Những khác biệt ấy hiện hữu trong đời sống thường nhật qua các nghi lễ gắn với gia đình, cộng đồng.

Điển hình, trong tang ma, với người Mông, nghi lễ khá phức tạp, gắn với quan niệm về linh hồn và tổ tiên. Người thân đặt bên cạnh người đã khuất những vật dụng như dao để “phát đường đi”, nỏ để bảo vệ linh hồn và gà trống để gáy báo hiệu cho tổ tiên nhận diện. Thầy cúng thực hiện các nghi lễ bằng khèn, trống, dẫn đường cho linh hồn trở về với tổ tiên. Trong khi đó, người Xạ Phang sau khi chôn cất người mất, trong 3 ngày liên tiếp gia đình mang lửa từ bếp ra mộ; sau một năm mới làm lễ nhập hồn vào bàn thờ tổ tiên và dứt tang. Trong 3 ngày đầu, con cháu kiêng ăn thịt mỡ. Nếu sau khi chôn cất, gia đình không ưng ý vị trí mộ, có thể di chuyển đến nơi khác nhưng không quá 3 lần...

Phong tục ấy đều có ý nghĩa đối với mỗi cộng đồng. Nhưng khi cùng trong một không gian, sự khác biệt đòi hỏi các nhóm dân cư phải hiểu và tôn trọng nhau; ngược lại nếu thiếu sự chia sẻ, thấu hiểu rất dễ gây hiểu lầm. Ông Vừ A Sàng (dân tộc Mông), Trưởng ban Công tác Mặt trận bản Huổi Lèng cho biết, khi sáp nhập, điều chúng tôi quan tâm không chỉ là thay đổi tên bản hay địa giới mà còn là làm sao để cộng đồng dân tộc cùng chung sống thuận hòa. Những khác biệt trong phong tục, văn hóa, nếu không hiểu nhau rất dễ nảy sinh cách nhìn khác nhau. Vì vậy, chúng tôi thường xuyên tuyên truyền, giải thích để người dân hiểu, tôn trọng phong tục của nhau.

Khoảng cách giữa các cộng đồng không chỉ xuất hiện ở vùng cao. Bản Tà Lèng, phường Điện Biên Phủ (phường trung tâm tỉnh) có 138 hộ, với 4 dân tộc: Kinh, Thái, Mông và Khơ Mú. Mỗi cộng đồng vẫn giữ nét văn hóa, phong tục và nếp sống riêng. Trong những việc riêng, người dân thường tìm đến họ hàng và những người cùng cộng đồng để sẻ chia, giúp đỡ; trong việc chung, mức độ giao lưu còn hạn chế. Đơn cử, trong Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân, sự khác biệt vẫn hiện rõ. Có nhóm tích cực giao lưu, tham gia các hoạt động chung, trong khi một số nhóm còn dè dặt, ít hòa vào sinh hoạt cộng đồng; thậm chí không tham gia.

Dân tộc Xạ Phang ở bản Huổi Lèng, xã Mường Tùng có nét văn hóa khác biệt với dân tộc Mông. Trong ảnh: Lớp truyền dạy nghề thêu truyền thống dân tộc Xạ Phang.

Dân tộc Xạ Phang ở bản Huổi Lèng, xã Mường Tùng có nét văn hóa khác biệt với dân tộc Mông. Trong ảnh: Lớp truyền dạy nghề thêu truyền thống dân tộc Xạ Phang.

Ông Lò Văn Mấng (dân tộc Khơ Mú), Bí thư Chi bộ bản Tà Lèng cho rằng, mỗi dân tộc có phong tục, tập quán và nếp sống riêng, đó là những giá trị cần được gìn giữ. Điều quan trọng là để sự khác biệt không trở thành khoảng cách trong cộng đồng. Tuy nhiên thực tế trong đời sống, những khác biệt về ngôn ngữ, cách giao tiếp, phong tục vẫn tạo ra những khoảng cách nhất định. Có những điều với cộng đồng này là phù hợp, nhưng với cộng đồng khác lại khó hiểu hoặc chưa dễ thích nghi.

Ngoài Huổi Lèng và Tà Lèng, việc nhiều dân tộc cùng sinh sống trong một bản không phải điều mới ở Điện Biên. Tuy nhiên, từ ngày 1/7/2026, khi tỉnh thực hiện sắp xếp, giảm từ 1.446 xuống còn 888 thôn, bản, tổ dân phố, giảm 558 đầu mối, quy mô các đơn vị dân cư lớn hơn, đồng nghĩa thành phần dân cư cũng đa dạng hơn. Thực tế tại nhiều địa bàn cho thấy, một thôn, bản có thể có từ hai dân tộc trở lên cùng sinh sống chiếm phần lớn, có bản quy tụ tới 7 - 8 dân tộc.

Phải khẳng định, sáp nhập thôn, bản là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, nhằm tinh gọn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và tập trung nguồn lực phục vụ người dân. Song, sắp xếp về tổ chức, địa giới mới chỉ là bước đầu. Đằng sau việc giảm đầu mối là bài toán dung hòa những khác biệt về tiếng nói, phong tục, tập quán, nếp sống; từ xây dựng hương ước, tổ chức lễ hội đến những quy ước về cưới, tang, bảo vệ rừng, nguồn nước.

Rào cản ngôn ngữ

Nếu văn hóa, phong tục, tập quán là những nét riêng làm nên bản sắc mỗi dân tộc, thì tiếng phổ thông là “cầu nối” để các cộng đồng hiểu và đến gần nhau hơn. Nhưng khi “chiếc cầu” ấy chưa đủ rộng, khác biệt về ngôn ngữ có thể tạo thêm khoảng cách.

Với 19 dân tộc, Điện Biên có 6 nhóm ngôn ngữ (cả nước có 8 nhóm ngôn ngữ), gồm Tày - Thái; Mông - Dao; Môn - Khơ Me; Tạng - Miến; Việt - Mường và Hán - Tạng. Mỗi ngôn ngữ gắn với một không gian văn hóa và đời sống cộng đồng được hình thành, trao truyền qua nhiều thế hệ. Ở các bản vùng cao, tiếng mẹ đẻ vẫn là ngôn ngữ giao tiếp chủ yếu, trong khi khả năng sử dụng tiếng phổ thông của một bộ phận người dân còn hạn chế. Năm 2020, toàn tỉnh còn gần 20% dân số trong độ tuổi 15 - 60 chưa biết chữ mức độ 2; đến năm 2025, tỷ lệ này còn hơn 10%. Tỷ lệ dân số 15 - 18 tuổi học THPT và tương đương cũng chưa cao, năm 2021 đạt 70,7%, đến năm 2024 đạt 77,9%.

Người dân bản Phìn Hồ, xã Si Pa Phìn tham gia một cuộc họp bản.

Người dân bản Phìn Hồ, xã Si Pa Phìn tham gia một cuộc họp bản.

Những con số ấy cho thấy rào cản ngôn ngữ không chỉ ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận thông tin mà còn hạn chế cơ hội giao tiếp, tìm hiểu phong tục, tập quán của các cộng đồng khác. Câu chuyện ấy hiện hữu khá rõ ở bản Phìn Hồ, xã Si Pa Phìn. Bản có 178 hộ, hơn 1.000 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào Mông. Trong cộng đồng ấy, vẫn có gần 300 người không biết tiếng phổ thông; số người nghe, hiểu tiếng phổ thông chưa thành thạo thì gần như gia đình nào cũng có. Đây là một trong những trở ngại đối với việc đưa thông tin đến từng hộ, từng người và tạo sự thống nhất trong những việc chung.

Anh Cháng A Dung, Bí thư Chi bộ bản Phìn Hồ chia sẻ: Trong bản, nhiều người dân, nhất là phụ nữ, khả năng sử dụng tiếng phổ thông còn hạn chế. Nếu chỉ tuyên truyền bằng tiếng phổ thông, có những nội dung người dân nghe nhưng chưa hiểu đầy đủ. Hạn chế về ngôn ngữ cũng khiến việc giao tiếp, chia sẻ và tìm hiểu phong tục, tập quán của các dân tộc khác gặp khó khăn. Khi chưa hiểu cách nói, cách ứng xử của nhau, những khác biệt văn hóa dễ được nhìn nhận theo lăng kính quen thuộc của mỗi cộng đồng, từ đó nảy sinh những hiểu lầm, làm hạn chế sự giao lưu và thấu hiểu giữa các nhóm dân cư.

Lọong Ngua, xã Mường Nhà là bản giáp biên giới với Lào. Sau sáp nhập, bản có hơn 50 hộ dân, chủ yếu dân tộc Mông, Khơ Mú. Đời sống còn nhiều khó khăn, phần lớn là hộ nghèo. Trong sinh hoạt cộng đồng, khác biệt về tiếng nói cũng là một trở ngại. Người Mông thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao; người Khơ Mú thuộc nhóm Môn - Khơ Me. Dù chung sống trong một cộng đồng, không phải ai cũng biết tiếng của nhau. Vì thế, khi trao đổi những nội dung liên quan đến việc chung, nếu chỉ sử dụng một ngôn ngữ, việc truyền đạt và tiếp nhận thông tin không tránh khỏi hạn chế.

Anh Thào A Cá Súa, Trưởng bản Lọong Ngua, cho biết: Người dân trong bản mỗi dân tộc có tiếng nói riêng nên trong sinh hoạt hằng ngày, việc giao tiếp giữa các gia đình, cộng đồng đôi khi còn hạn chế. Có những việc người Mông hiểu theo cách của người Mông, người Khơ Mú cũng có cách hiểu, cách diễn đạt riêng. Vì vậy, mỗi khi bản tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, việc truyền đạt đến tất cả người dân không phải lúc nào cũng thuận lợi. Những người biết tiếng của nhiều dân tộc thường phải hỗ trợ để giải thích, trao đổi lại, giúp bà con hiểu đầy đủ hơn.

Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên kết hợp công tác tuyên truyền với giúp nhân dân bản Mốc C5 cũ (nay là bản Lọong Ngua) xã Mường Nhà.

Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên kết hợp công tác tuyên truyền với giúp nhân dân bản Mốc C5 cũ (nay là bản Lọong Ngua) xã Mường Nhà.

Thực tế ở Phìn Hồ và Lọong Ngua cho thấy, nếu không chủ động tháo gỡ rào cản ngôn ngữ, một bộ phận người dân dễ trở thành những người đứng ngoài các hoạt động chung. Không phải đến khi khó khăn phát sinh, yêu cầu này mới được đặt ra. Quá trình xây dựng phương án sắp xếp thôn, bản, tổ dân phố, Điện Biên đã xác định yếu tố dân tộc, phong tục, tập quán, trình độ phát triển và điều kiện cư trú là những vấn đề cần tính toán. Tại Văn bản số 4343/UBND-NC ngày 28/5/2026 về triển khai, hướng dẫn một số nội dung thực hiện sắp xếp thôn, bản, tổ dân phố, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Lương yêu cầu các địa phương xem xét những địa bàn có yếu tố đặc thù, nhất là những nơi có sự khác biệt về phong tục, tập quán, thành phần dân tộc, tôn giáo.

Khác biệt về văn hóa, phong tục, ngôn ngữ không phải là điều cần xóa bỏ, mà cần được thấu hiểu và tôn trọng. Bởi nếu không được hóa giải, những khác biệt ấy có thể dần trở thành định kiến, khoảng cách, ảnh hưởng đến niềm tin và sự đồng thuận trong cộng đồng. Và khi khoảng cách vô hình ấy trở thành những hệ quả hữu hình, đó không còn là câu chuyện của riêng mỗi cộng đồng, mà có thể tác động trực tiếp đến đời sống, sự phát triển và khối đại đoàn kết các dân tộc.

 Văn Tâm

Bài 2: Hệ lụy hữu hình

Nguồn Điện Biên Phủ: https://baodienbienphu.vn/tin-bai/xa-hoi/quy-tu-long-dan-trong-ban-da-dan-toc