Sáp nhập đại học: 'Tránh chỉ to hơn về quy mô'

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng, sáp nhập chỉ thực sự thành công khi sau đó năng lực học thuật tăng lên, người giỏi muốn đến, sinh viên muốn học và xã hội nhận được nhiều giá trị hơn từ đại học. Làm tốt việc sáp nhập, đại học Việt Nam sẽ thực sự chuyển từ nơi chủ yếu cấp bằng sang những trung tâm sáng tạo tri thức, công nghệ và nhân tài.

Trong quá trình đổi mới, sắp xếp mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, sáp nhập được xem là một trong những giải pháp nhằm tinh gọn đầu mối, tập trung nguồn lực và nâng cao hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, bài toán đặt ra không nằm ở việc “gộp” bao nhiêu trường, giảm bao nhiêu đầu mối mà là sau sáp nhập, chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và năng lực cạnh tranh của các cơ sở giáo dục đại học có thực sự được nâng lên hay không. PV Báo CAND đã có cuộc trò chuyện với GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội xung quanh chủ trương lớn đang thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội hiện nay.

PV: Thưa GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, chủ trương sắp xếp, sáp nhập các cơ sở giáo dục đại học đang được đặt ra trong yêu cầu đổi mới và nâng cao hiệu quả hệ thống. Theo ông, đâu là vấn đề cốt lõi mà công cuộc sáp nhập các trường đại học cần giải quyết?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Theo tôi, điều cốt lõi trước hết phải xác định rất rõ mục tiêu cuối cùng của công cuộc sắp xếp, sáp nhập - phải là nâng cao chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu - đổi mới sáng tạo, hiệu quả sử dụng nguồn lực và sức cạnh tranh của đại học Việt Nam. Nếu chỉ nhìn sáp nhập như một phép giảm số lượng đầu mối hành chính thì chúng ta mới giải quyết được phần “vỏ”, chưa chạm đến phần “lõi” của bài toán.

Hiện nay, một hạn chế của hệ thống là nguồn lực còn phân tán: Có nơi quy mô nhỏ, ngành đào tạo trùng lặp, phòng thí nghiệm và đội ngũ nghiên cứu bị chia cắt, trong khi các bài toán khoa học - công nghệ ngày càng liên ngành và đòi hỏi đầu tư lớn. Vì vậy, sắp xếp lại mạng lưới phải hướng tới việc hình thành những cơ sở có đủ quy mô học thuật, đủ năng lực quản trị và đủ nguồn lực để tạo ra các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm dùng chung, chương trình đào tạo liên ngành và các trung tâm đổi mới sáng tạo có tầm vóc.

Tôi cho rằng mỗi phương án sáp nhập cần trả lời được bốn câu hỏi rất cụ thể: Sau sáp nhập, chất lượng đào tạo và nghiên cứu có tăng không; nguồn lực có được tập trung và sử dụng hiệu quả hơn không; bộ máy quản trị có thực sự tinh gọn và ra quyết định nhanh hơn không; văn hóa của tổ chức có hòa hợp được và tốt hơn lên không. Nếu không trả lời được bốn câu hỏi ấy bằng các chỉ tiêu đo lường được, rất dễ rơi vào tình trạng “to hơn về quy mô nhưng chưa mạnh hơn về năng lực”.

PV: Trên thế giới, việc hợp nhất các trường đại học thường nhằm tạo ra hệ sinh thái đào tạo - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo mạnh hơn. Việt Nam có thể học được gì từ kinh nghiệm quốc tế và mô hình quản trị nào là phù hợp trong bối cảnh hiện nay, thưa Giáo sư?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có một mô hình sáp nhập duy nhất phù hợp với mọi trường đại học. Điều đáng học nhất không phải là “gộp bao nhiêu trường”, mà là cách họ xác định mục tiêu chiến lược trước khi thiết kế mô hình tổ chức. OECD đã chỉ ra rằng các quá trình hợp tác, liên minh hoặc sáp nhập đại học thành công thường gắn với kế hoạch triển khai tốt, sự đồng thuận của các bên liên quan, tập trung nguồn lực và sự nhất quán của chính sách.

Với Việt Nam, theo tôi nên áp dụng tư duy phân loại, không nên dùng một công thức cho tất cả. Những trường có quy mô nhỏ, năng lực hạn chế, ngành nghề trùng lặp và cùng địa bàn có thể xem xét hợp nhất sâu. Những trường đã có thương hiệu, thế mạnh đặc thù và năng lực học thuật tốt có thể tổ chức theo mô hình đại học đa lĩnh vực hoặc hệ thống đại học, trong đó thống nhất chiến lược, dữ liệu, chuẩn chất lượng và các dịch vụ dùng chung nhưng vẫn phân quyền mạnh cho các trường, khoa, viện về chuyên môn học thuật. Mô hình phù hợp, theo tôi, là “một chiến lược - một hệ thống quản trị - một chuẩn chất lượng, nhưng nhiều trung tâm học thuật có quyền chủ động”.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội.

PV: Có ý kiến lo ngại rằng nếu chỉ “cộng cơ học” các trường thành một đầu mối lớn hơn thì quy mô tăng nhưng chất lượng chưa chắc tăng. Giáo sư nhìn nhận thế nào về nguy cơ này? Theo Giáo sư, điều kiện tiên quyết để một cuộc sáp nhập thực sự tạo ra giá trị mới là gì?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Tôi cho rằng lo ngại đó hoàn toàn có cơ sở. Sáp nhập về pháp lý và tổ chức là phần dễ nhìn thấy nhất; khó hơn nhiều là tích hợp chiến lược, văn hóa, hệ thống quản trị, dữ liệu, tài chính, nhân sự và đặc biệt là tạo ra sự cộng hưởng về học thuật. Nếu sau sáp nhập, mỗi đơn vị vẫn vận hành như cũ, vẫn có những “biên giới” riêng về nguồn lực, chương trình và nghiên cứu, thì thực chất chúng ta chỉ đặt nhiều đơn vị dưới một cái tên mới. Điều kiện tiên quyết là phải có một đề án phát triển sau sáp nhập, chứ không chỉ có một đề án sáp nhập. Nói ngắn gọn, không thể kỳ vọng 1 + 1 > 2 nếu sau sáp nhập vẫn là hai bộ máy, hai cơ chế và hai văn hóa cùng tồn tại dưới một mái nhà. Giá trị mới chỉ xuất hiện khi hình thành được năng lực mới mà từng trường riêng lẻ trước đó không thể tạo ra.

PV: Một vấn đề được quan tâm là bản sắc và thế mạnh riêng của từng trường sau sáp nhập. Theo Giáo sư, làm thế nào để tránh tình trạng những ngành đào tạo đặc thù, những nhóm nghiên cứu mạnh hoặc thương hiệu đã được xây dựng qua nhiều năm bị hòa tan trong một tổ chức lớn?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Theo tôi, bản sắc và thương hiệu tốt không phải là vật cản của sáp nhập mà là một loại tài sản vô hình rất quý. Sáp nhập thông minh không phải là xóa mọi khác biệt để tạo ra sự đồng nhất, mà là đặt những thế mạnh khác nhau vào một cấu trúc có khả năng cộng hưởng. Một đại học mạnh trên thế giới thường chính là một “hệ sinh thái của những khác biệt”: Các trường thành viên, khoa, viện, phòng thí nghiệm có lịch sử và bản sắc riêng nhưng cùng chia sẻ một chiến lược chung. Vì vậy, ngay từ khi xây dựng đề án phải phân biệt rõ hai lớp: Cấp đại học và cấp học thuật.

Đối với các nhóm nghiên cứu mạnh, theo tôi phải có cơ chế bảo vệ và nâng cấp chứ không được “chia đều” nguồn lực sau sáp nhập. Cần nhận diện các nhóm xuất sắc, các phòng thí nghiệm có năng lực cạnh tranh quốc tế để phát triển thành trung tâm nghiên cứu xuất sắc. Với những ngành đặc thù, quy mô người học có thể không lớn nhưng có ý nghĩa chiến lược quốc gia - chẳng hạn một số ngành khoa học cơ bản hoặc công nghệ nền tảng - thì không thể đánh giá chỉ bằng số lượng tuyển sinh hay khả năng tự cân đối tài chính.

Nguyên tắc khi sáp nhập nên là: Cái gì đang tốt thì phải làm cho tốt hơn; cái gì trùng lặp, kém hiệu quả thì mạnh dạn tái cấu trúc. Sáp nhập không nên làm mất đi những “đỉnh cao” đã hình thành, mà phải tạo một nền tảng lớn hơn để các đỉnh cao ấy phát triển.

PV: Giáo sư từng nêu quan điểm, sáp nhập phải song hành với tự chủ thực chất, toàn diện và sâu sắc. Hiện vấn đề tự chủ ở các trường đại học, theo Giáo sư đang gặp phải “điểm nghẽn” nào lớn nhất và sau sáp nhập, giải pháp nào sẽ giải quyết được “điểm nghẽn” đó?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Tôi vẫn cho rằng sáp nhập phải đi cùng tự chủ thực chất. Một tổ chức càng lớn mà quyền quyết định càng bị chia cắt, thủ tục càng nhiều tầng thì càng dễ trở nên chậm chạp. Khi đó sáp nhập không tạo sức mạnh mà có thể tạo thêm chi phí phối hợp. Điểm nghẽn lớn trong tự chủ đại học thời gian qua là tự chủ chưa phải lúc nào cũng đồng bộ giữa chuyên môn học thuật, tổ chức - nhân sự, tài chính, tài sản và đầu tư.

Theo tôi, bước tiếp theo phải chuyển mạnh từ cơ chế “xin - cho, phê duyệt trước” sang giao quyền đi đôi với kiểm soát bằng chuẩn, dữ liệu và kết quả đầu ra. Nhà nước quy định rõ chuẩn chất lượng, các giới hạn trách nhiệm và cơ chế kiểm tra; còn trường phải được chủ động hơn trong tuyển dụng và đãi ngộ nhân tài, tổ chức bộ máy, sử dụng nguồn lực, đầu tư phòng thí nghiệm, hợp tác với doanh nghiệp và quốc tế. Sau sáp nhập, càng cần thiết lập một hệ thống quản trị thống nhất, minh bạch và số hóa, với phân quyền rõ đến các đơn vị học thuật.

PV: Đội ngũ giảng viên, nhà khoa học là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục đại học. Khi sáp nhập, làm thế nào để sắp xếp, sử dụng và phát huy đội ngũ, đồng thời tạo động lực để người giỏi không rời đi, thưa Giáo sư?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Trong đại học, tài sản quan trọng nhất không phải là tòa nhà mà là con người. Vì vậy, tôi cho rằng quản trị nhân sự phải là một trong những nội dung được chuẩn bị sớm nhất khi sáp nhập. Nếu làm không tốt, những người giỏi thường là những người có nhiều lựa chọn nhất và cũng có thể là những người rời đi sớm nhất.

Trước hết phải có nguyên tắc minh bạch, công bằng và dựa trên năng lực. Sắp xếp nhân sự không nên theo tư duy cơ học kiểu “mỗi bên giữ một nửa vị trí”, mà phải dựa trên vị trí việc làm, thành tích, năng lực lãnh đạo, đóng góp học thuật và yêu cầu của chiến lược mới. Cần chuyển từ “xếp con người vào sơ đồ” sang “thiết kế công việc để phát huy con người”.

Đối với giảng viên và nhà khoa học, cần bảo đảm môi trường học thuật ổn định trong quá trình chuyển đổi; duy trì các nhóm nghiên cứu mạnh; có quỹ nghiên cứu cạnh tranh, cơ chế giao quyền chủ trì, chính sách thu nhập và đãi ngộ theo hiệu quả; mở rộng cơ hội tiếp cận phòng thí nghiệm, dữ liệu và mạng lưới hợp tác. Sáp nhập cũng phải tạo ra lộ trình nghề nghiệp rộng hơn: Một nhà khoa học giỏi phải nhìn thấy sau sáp nhập mình có nhiều cơ hội hơn chứ không phải nhiều thủ tục hơn.

PV: Một vấn đề xã hội rất quan tâm là quyền lợi của người học. Khi các trường sáp nhập, cần có cơ chế như thế nào để bảo đảm sinh viên đang theo học không bị xáo trộn chương trình, học phí, văn bằng, địa điểm học tập và cơ hội việc làm, thưa Giáo sư?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Theo tôi, mỗi phương án sáp nhập cần có một “kế hoạch bảo đảm quyền lợi người học” riêng và công bố công khai ngay từ đầu. Trong đó phải xác định rõ cơ chế chuyển tiếp đối với chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, học phí, học bổng, tín chỉ đã tích lũy, văn bằng, địa điểm học tập, ký túc xá và các dịch vụ hỗ trợ. Nguyên tắc nên là những cam kết đã áp dụng với khóa đang học phải được tôn trọng; nếu có thay đổi thì chỉ được thực hiện khi quyền lợi của người học không thấp hơn trước.

Tôi đặc biệt nhấn mạnh truyền thông. Trong những giai đoạn chuyển đổi lớn, khoảng trống thông tin rất dễ tạo ra tâm lý bất an. Cần có một đầu mối hỗ trợ sinh viên, hệ thống hỏi - đáp công khai và cơ chế tiếp nhận phản hồi. Nếu làm tốt, sáp nhập không chỉ “không gây thiệt” cho sinh viên mà còn phải giúp các em được tiếp cận nhiều môn học hơn, nhiều phòng thí nghiệm hơn, nhiều giảng viên giỏi hơn và nhiều cơ hội nghiên cứu, trao đổi quốc tế hơn.

Sắp xếp lại mạng lưới đại học thành công là thu hút được nhiều người giỏi, sinh viên muốn học và xã hội nhận được nhiều giá trị hơn từ đại học.

Sắp xếp lại mạng lưới đại học thành công là thu hút được nhiều người giỏi, sinh viên muốn học và xã hội nhận được nhiều giá trị hơn từ đại học.

PV: Nhìn rộng hơn, nếu làm tốt việc sắp xếp mạng lưới giáo dục đại học, Giáo sư kỳ vọng diện mạo của hệ thống đại học Việt Nam sẽ thay đổi như thế nào trong 5-10 năm tới?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Nếu làm tốt, tôi kỳ vọng sau 5-10 năm chúng ta sẽ có một hệ thống đại học ít phân tán hơn nhưng mạnh hơn, sẽ có những đại học tinh hoa, trong đó mỗi cơ sở có sứ mạng rõ ràng và có quy mô, tiềm lực đủ để thực hiện sứ mạng ấy. Sẽ có những đại học nghiên cứu dẫn dắt khoa học - công nghệ và đào tạo nhân tài; những đại học ứng dụng gắn chặt với doanh nghiệp; những đại học vùng trở thành hạt nhân tri thức và đổi mới sáng tạo của địa phương; đồng thời phát triển một số cơ sở tinh hoa có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Về nguồn lực, chúng ta cần chuyển từ tư duy “mỗi nơi một ít” sang hình thành các trung tâm xuất sắc, hạ tầng nghiên cứu dùng chung và mạng lưới dữ liệu liên thông. Khi một phòng thí nghiệm lớn có thể phục vụ nhiều ngành, nhiều nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp, hiệu quả đầu tư sẽ khác hẳn việc mỗi đơn vị đều cố xây một hệ thống nhỏ của riêng mình.

Nếu tái cấu trúc tốt, thứ hạng quốc tế có thể được cải thiện, nhưng tôi cho rằng xếp hạng chỉ nên là hệ quả, không phải mục tiêu duy nhất. Thành công thực sự phải thể hiện ở chất lượng nhân lực, các công trình có ảnh hưởng, sáng chế và công nghệ được chuyển giao, doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học, khả năng thu hút nhân tài và đóng góp của trường đại học vào năng lực cạnh tranh quốc gia.

PV: Nếu được đưa ra một thông điệp quan trọng nhất đối với những cơ sở giáo dục đại học đang đứng trước yêu cầu sắp xếp, sáp nhập, Giáo sư muốn nhấn mạnh điều gì để quá trình này không chỉ dừng ở việc “đổi tên, đổi cơ cấu” mà thực sự tạo ra một bước phát triển về chất?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Thông điệp tôi muốn nhấn mạnh là: Đừng bắt đầu việc sáp nhập từ sơ đồ tổ chức, hãy bắt đầu từ sứ mạng và chiến lược phát triển. Biển tên có thể thay trong vài ngày, cơ cấu có thể ban hành bằng một quyết định, nhưng để hình thành một đại học mạnh cần nhiều năm xây dựng văn hóa học thuật, cơ chế quản trị và niềm tin của đội ngũ. Vì vậy, điều cần hướng tới không phải là “một trường đại học lớn hơn”, mà là “một đại học tốt hơn, mạnh hơn”.

Sáp nhập chỉ thực sự thành công khi sau đó năng lực học thuật tăng lên, người giỏi muốn đến, sinh viên muốn học và xã hội nhận được nhiều giá trị hơn từ đại học. Làm tốt việc sáp nhập, đại học Việt Nam sẽ thực sự chuyển từ nơi chủ yếu cấp bằng sang những trung tâm sáng tạo tri thức, công nghệ và nhân tài.

PV: Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư về cuộc trò chuyện này!

Thu Phương- Huyền Thanh (thực hiện)

Nguồn CAND: https://cand.vn/sap-nhap-dai-hoc-tranh-chi-to-hon-ve-quy-mo-post821871.html