Số hóa việc học trong mỗi cơ quan, đơn vị
Trong quá trình công tác, hầu như người nào cũng tham gia các khóa học, bồi dưỡng chuyên môn, và dấu vết của việc học thường nằm trong các chứng chỉ, quyết định, danh sách và phải tự lưu giữ. Số hóa dữ liệu đang mở ra cách ghi nhận liên tục quá trình ấy, gắn với hồ sơ công tác, giảm việc gom minh chứng vào mỗi kỳ tổng hợp.

Đại diện Hội Khuyến học Việt Nam và The Vietnam Foundation cùng các đại biểu tại lễ ký Biên bản ghi nhớ hợp tác về thúc đẩy học tập suốt đời trên nền tảng số.
Khi việc học chỉ thể hiện trong hồ sơ
Ở xã Vĩnh Thanh, Hà Nội, để xác nhận một cán bộ có tham gia học tập thường xuyên, hoàn thành chương trình bồi dưỡng hay ứng dụng công nghệ thông tin trong công việc, người phụ trách phải tập hợp nhiều loại hồ sơ.
Dữ liệu nằm ở nhiều nơi, cách xác định minh chứng chưa thật thống nhất, trong khi cán bộ làm công việc này phần lớn kiêm nhiệm.
Ông Hoàng Đăng Khoa, Trưởng Phòng Văn hóa-Xã hội xã Vĩnh Thanh, cho biết việc rà soát, đối chiếu mất khá nhiều thời gian. Đây cũng là tình huống không xa lạ ở nhiều cơ quan: người lao động đã học xong một khóa bồi dưỡng, nhưng đến kỳ tổng hợp vẫn phải tìm lại chứng chỉ, chứng nhận, quyết định cử đi học hoặc các giấy tờ liên quan để nộp cho bộ phận tổ chức cán bộ, hành chính nhân sự.
Trong hệ thống khuyến học, việc này gắn với đánh giá mô hình “Đơn vị học tập”. Tên gọi có thể còn xa lạ, nhưng nội dung mô hình muốn đề cập lại rất gần với công việc hằng ngày đó là: sau mỗi khóa học, cán bộ, người lao động có thực sự cập nhật được kiến thức, kỹ năng và đưa những gì đã học vào công việc hay không.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Doan, nguyên Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, tại lễ ký Biên bản ghi nhớ hợp tác giữa Hội Khuyến học Việt Nam và The Vietnam Foundation (VNF). (Ảnh: VNF)
Một chứng chỉ có thể xác nhận một người đã hoàn thành khóa học nhưng khó nói hết người đó học được gì, học đến đâu, sau vài tháng, vài năm còn sử dụng kiến thức ấy hay không. Khi việc đánh giá dựa nhiều vào hồ sơ được gom lại vào cuối kỳ, phần quá trình ở giữa dễ bị mờ đi.
Đây là chỗ Hội Khuyến học Việt Nam và The Vietnam Foundation (VNF) đang tính đến việc sử dụng công nghệ.
Trên nền tảng Khan Academy, quá trình học của từng tài khoản hiện có thể để lại dữ liệu về khóa học đã tham gia, tiến độ hoàn thành, kết quả luyện tập, mức độ thành thạo và thời lượng học. Theo ông Kiều Huy Hòa - đại diện VNF, những dữ liệu này có thể tổng hợp thành báo cáo, giúp đơn vị theo dõi hoạt động học tập mà không phải dựa hoàn toàn vào việc thống kê lại sau mỗi đợt.

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Khuyến học Việt Nam Lê Mạnh Hùng và ông Phạm Đức Trung Kiên, Chủ tịch The Vietnam Foundation, đồng sáng lập Chương trình Khan Academy Vietnam, trao Biên bản ghi nhớ hợp tác trước sự chứng kiến của các đại biểu. (Ảnh: VNF)
Hướng tiếp theo được hai bên nghiên cứu là một công cụ hỗ trợ quản lý, tự đánh giá, chấm điểm, lưu trữ minh chứng và theo dõi tiến độ thực hiện các tiêu chí của “Đơn vị học tập”. Dữ liệu từ nền tảng học trực tuyến sẽ được tính đến cùng những minh chứng khác của cơ quan, thay vì chỉ đếm có bao nhiêu người đã tham gia một khóa học.
Công cụ này hiện chưa hoàn thiện. Việc thử nghiệm còn phụ thuộc vào bộ tiêu chí được thống nhất chính thức và cách mỗi loại minh chứng sẽ được số hóa ra sao. Sự thận trọng ấy là cần thiết, bởi chuyển hồ sơ từ tủ giấy lên máy tính chưa làm thay đổi nhiều nếu cuối cùng người lao động vẫn phải tự lục tìm chứng chỉ, còn người phụ trách vẫn mất từng ấy thời gian để nhập lại thông tin.
Thử nghiệm trước khi nhân rộng
Cách làm đang được Hội tính đến cũng khá đơn giản: chưa làm rộng ngay mà chọn một địa phương để thử trước, xem công cụ có thực sự giúp cơ sở bớt việc và việc học có được ghi nhận rõ hơn hay không.
Theo ông Lê Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Khuyến học Việt Nam, Hưng Yên đang được đề xuất làm địa bàn thí điểm. Tại đây có Trung tâm Chuyển đổi số của Hội, một số xã phù hợp có thể được lựa chọn để triển khai, sau đó mới tổng kết, đánh giá và tính đến phạm vi rộng hơn.
Hưng Yên cũng vừa đặt ra một hướng đi khá gần với cách làm này. Tại Đại hội đại biểu Hội Khuyến học tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031, Hội xác định chuyển mạnh từ “khuyến học truyền thống” sang “khuyến học kiến tạo xã hội học tập”, phát triển “Khuyến học số”, đẩy mạnh “Bình dân học vụ số” và ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo vào quản trị, tổ chức hoạt động.
Trong các mục tiêu của nhiệm kỳ mới có việc phấn đấu 100% đơn vị đạt danh hiệu “Đơn vị học tập”. Khi số lượng hướng tới là toàn bộ các đơn vị, việc theo dõi cũng khó tiếp tục dựa nhiều vào cách cuối kỳ mới tập hợp giấy tờ. Cơ sở cần một cách làm vừa thuận tiện, vừa giúp nhìn được bên trong mỗi đơn vị người lao động có học thường xuyên hay không, học những gì và việc học ấy có đi vào công việc hay không.

Hướng dẫn học sinh học tập trên nền tảng số tại Trường Tiểu học - THCS Tiến Thắng B, Hà Nội. (Ảnh: VNF)
Ông Lê Mạnh Hùng gọi đó là “làm thật, học thật và đánh giá được tác động đối với đời sống người dân”. Theo ông, “Đơn vị học tập” có thể là một trong những mô hình làm trước, rồi từ đó nối sang Công dân học tập, Gia đình học tập, Dòng họ học tập và Cộng đồng học tập.
Công nghệ có thể giúp ghi nhận người học đã tham gia khóa nào, học đến đâu, để bộ phận nhân sự cập nhật thường xuyên thay vì chờ từng đợt kê khai, bổ sung chứng nhận. Còn việc học có giá trị đến đâu vẫn phải nhìn vào hiệu quả công việc để kiểm chứng: kiến thức mới có được sử dụng và giúp người học làm tốt hơn hay không.
Từ cách nhìn ấy, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Doan, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, gọi đó là “khuyến học kiến tạo”, không dừng ở việc khuyến khích người dân học, mà tạo thêm cơ hội, công cụ và môi trường để mỗi người có thể học khi cần. Bà ví nền tảng số như một “thư viện bỏ túi”, một “lớp học bỏ túi”, nhưng việc học chỉ thật sự có ý nghĩa khi được nối với gia đình, cơ quan và cộng đồng.
Với người đi làm, câu chuyện ấy khá gần gũi và thiết thực. Khi cần một kỹ năng mới, họ có thể tìm khóa học phù hợp; quá trình học được lưu lại, cơ quan cũng có thể cập nhật mà không phải chờ đến cuối năm mới kê khai, bổ sung chứng nhận.
Công cụ số chưa thể tự tạo nên một “Đơn vị học tập”, nhưng có thể giúp cơ quan theo dõi sát hơn quá trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức và sự thay đổi về năng lực, trình độ của người lao động. Khi dữ liệu học tập được cập nhật thường xuyên, người quản lý cũng có thêm cơ sở để biết mỗi người đang cần học gì, đã học đến đâu và kiến thức mới đã đi vào công việc như thế nào.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/so-hoa-viec-hoc-trong-moi-co-quan-don-vi-post999388.html
