Sửa đổi Luật Thủ đô, thúc đẩy Hà Nội phát triển bứt phá
Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) được kỳ vọng tạo cơ chế đặc thù, vượt trội, tháo gỡ điểm nghẽn và mở ra động lực phát triển mới cho Thủ đô trong giai đoạn tới.

Quốc hội họp phiên chiều 8/4. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)
Trao quyền mạnh, tạo đột phá cho Hà Nội
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 8/4, Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật Thủ đô (sửa đổi).
Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cho biết, việc ban hành Luật Thủ đô (sửa đổi) nhằm hoàn thiện thể chế đặc thù, vượt trội, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vị trí, vai trò, tính chất riêng có của Thủ đô; trao quyền mạnh hơn; phân cấp, phân quyền toàn diện, tối đa cho chính quyền Thủ đô gắn với nguồn lực thực hiện và trách nhiệm kiểm tra, giám sát, giải trình.
Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) gồm 9 Chương, 36 Điều (giảm 18 điều so với Luật Thủ đô số 39/2024/QH15), quy định về vị trí, vai trò của Thủ đô; cơ chế, chính sách, thẩm quyền, trách nhiệm xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô.
Với tinh thần, cách tiếp cận mới, dự thảo Luật đã sửa đổi hầu hết các quy định tại Luật Thủ đô số 39/2024/QH15: các quy định chung, quy định về tổ chức chính quyền, chế độ công vụ; quy hoạch, xây dựng và trật tự, an toàn Thủ đô; phát triển văn hóa-xã hội; phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nguồn lực phát triển Thủ đô; liên kết, phát triển vùng; giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình; điều khoản chuyển tiếp và hiệu lực thi hành.

Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật Thủ đô (sửa đổi). (Ảnh: THỦY NGUYÊN)
Theo đó, dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) bổ sung quy định về thẩm quyền xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Điều 8) của chính quyền Thành phố Hà Nội; quy định về thí điểm cơ chế, chính sách (Điều 9) nhằm xác lập khuôn khổ pháp lý cho việc thử nghiệm các mô hình, giải pháp quản lý và phát triển mới; bổ sung quy định về công dân ưu tú Thủ đô và giao Hội đồng nhân dân Thành phố có thẩm quyền quy định về điều kiện, thủ tục tặng, thu hồi danh hiệu này.
Dự án Luật cũng bổ sung quy định về thu hồi đất để thực hiện các dự án cần triển khai ngay theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng ủy Chính phủ, Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội; quy định về phát triển khu kinh tế tự do, khu thương mại tự do và loại hình kinh tế mới; bổ sung quy định về trách nhiệm giải trình của chính quyền thành phố (khoản 6 Điều 33).
Nội dung bổ sung nữa là quy định về cơ chế xử lý vi phạm, loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý (Điều 34) để xử lý các vi phạm khi tổ chức thi hành Luật. Đồng thời, xác lập cơ chế loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý đối với người đứng đầu, công chức, viên chức và cá nhân tham gia xây dựng, ban hành, thi hành Luật và các văn bản liên quan, trong trường hợp không tư lợi, đã tuân thủ đầy đủ các quy trình theo quy định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng vẫn xảy ra thiệt hại.
Dự thảo Luật được xây dựng theo hướng đẩy mạnh phân quyền cho chính quyền thành phố, không quy định chi tiết về trình tự, thủ tục. Do đó, các quy định tại dự thảo Luật không trực tiếp quy định các thủ tục hành chính.
Dự thảo Luật đã quy định phân quyền toàn diện, tối đa cho chính quyền Thành phố Hà Nội nhằm tăng tính chủ động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền thành phố Hà Nội. Theo thống kê, có 192 thẩm quyền được giao cho chính quyền Hà Nội, trong đó 50 thẩm quyền kế thừa từ Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 và Nghị quyết số 258/2025/QH15, 57 thẩm quyền khác quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, 85 thẩm quyền mới chưa có quy định của pháp luật hiện hành.
Dự thảo có nhiều quy định về đẩy mạnh việc quản trị dựa trên dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo; thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Bên cạnh đó, dự thảo Luật đã quy định đầy đủ các cơ chế bảo đảm nguồn lực tài chính cho việc tổ chức thi hành Luật như trao quyền để Hà Nội chủ động trong việc tăng ngân sách, thu hút đầu tư, giữ lại nguồn tăng thu ngân sách, các khoản thu; cơ chế vay vốn; huy động nguồn vốn xã hội hóa, vốn ODA, vốn hợp tác đầu tư, phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu dự án.
Việc sửa luật nhằm xây dựng thể chế đặc biệt, vượt trội cho Thủ đô
Trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Thủ đô (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu cho biết, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Thủ đô năm 2024 với những lý do và quan điểm xây dựng như đã nêu tại Tờ trình của Chính phủ.
Việc sửa đổi nhằm xây dựng một thể chế đặc biệt, vượt trội và ổn định, đủ khả năng giải quyết hiệu quả các vấn đề của Thủ đô, qua đó tạo lợi thế cạnh tranh và thúc đẩy Hà Nội phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
Ủy ban Pháp luật và Tư pháp thấy rằng, hồ sơ dự án Luật đã được chuẩn bị công phu, đầy đủ các tài liệu theo quy định, đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, quyết định theo trình tự, thủ tục rút gọn. Nội dung dự thảo Luật đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, định hướng lớn của Đảng về xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các điều ước quốc tế có liên quan.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Thủ đô (sửa đổi). (Ảnh: THỦY NGUYÊN)
Ủy ban Pháp luật và Tư pháp nhất trí cao với định hướng phân quyền cho thành phố Hà Nội trên các lĩnh vực như Chính phủ trình nhằm phát huy vai trò chủ động trong thiết kế và tổ chức thực hiện chính sách, phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Theo đó, dự thảo Luật đã thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng theo 3 nhóm nội dung chính gồm: (1) hoàn thiện thể chế đặc thù, tăng quyền chủ động cho chính quyền Thủ đô; (2) tổ chức không gian phát triển hiện đại, bền vững; (3) huy động, phân bổ hiệu quả nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và liên kết vùng.
Để bảo đảm các cơ chế, chính sách đặc thù phát huy hiệu quả, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các nội dung của dự thảo Luật theo tinh thần đổi mới tư duy xây dựng pháp luật được nêu trong Nghị quyết số 66-NQ/TW và nhiều kết luận, chỉ đạo gần đây của Trung ương, Bộ Chính trị.
Đồng thời, lưu ý một số nội dung: tiếp tục rà soát, phân định rõ thẩm quyền giữa các chủ thể (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố) trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật; thiết kế chặt chẽ trình tự, thủ tục và yêu cầu ban hành đối với các văn bản có nội dung khác với quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo hướng bảo đảm công khai, minh bạch, có cơ chế tiếp nhận, phản hồi ý kiến đóng góp và đánh giá hiệu quả sau ban hành; bổ sung một số nguyên tắc cần được bảo đảm khi ban hành nghị quyết thí điểm như thực hiện tham vấn các cơ quan trung ương, có cơ chế điều chỉnh, gia hạn hoặc chấm dứt thí điểm và nghiên cứu áp dụng cơ chế “tự chấm dứt” sau thời hạn nhất định nếu không được đánh giá là hiệu quả.
Làm rõ mục tiêu, phạm vi, điều kiện và cơ chế thực hiện các chính sách phát triển đô thị, nhất là các nội dung về quy hoạch không gian, hạ tầng giao thông, logistics, môi trường và xử lý các điểm nghẽn, các chính sách trong lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo theo hướng vừa bảo đảm tính đặc thù, vượt trội song vẫn bảo đảm yêu cầu về tính khả thi, tính ổn định, lâu dài của chính sách, nhất là đối với các nội dung có tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân.
Làm rõ điều kiện, giới hạn và cơ chế kiểm soát đối với các chính sách tài chính, đầu tư, tài nguyên nhằm bảo đảm tính linh hoạt nhưng không trùng lặp và hạn chế rủi ro; đánh giá kỹ tác động đối với ngân sách để bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương; hoàn thiện chính sách đất đai theo hướng minh bạch, bảo đảm hài hòa lợi ích của các bên liên quan và nâng cao yêu cầu về trách nhiệm giải trình.
Bổ sung cơ chế để các địa phương tham gia liên kết, phát triển vùng Thủ đô được hưởng chính sách phù hợp, bảo đảm hiệu quả triển khai; làm rõ phạm vi, nguồn lực và cơ chế vận hành Quỹ phát triển vùng, tránh phát sinh gánh nặng ngân sách.
Quy định cụ thể trách nhiệm, thời hạn và nội dung báo cáo trong công tác giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình trong quá trình thi hành pháp luật; làm rõ căn cứ đình chỉ, bãi bỏ văn bản và thiết kế cơ chế miễn, loại trừ trách nhiệm pháp lý theo hướng có thể kiểm chứng và tránh bị lợi dụng; tiếp tục rà soát các quy định chuyển tiếp để bảo đảm tính liên tục của chính sách và tách bạch rõ với các cơ chế, chính sách đặc thù.











