Sửa Luật An toàn thực phẩm: Quản lý thông minh, không gây đứt gãy sản xuất
Tác động trực tiếp đến sức khỏe của gần 100 triệu người dân và sinh kế của hàng triệu hộ kinh doanh, doanh nghiệp, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đang nhận được sự quan tâm lớn. Các hiệp hội ngành hàng kiến nghị luật hóa tinh thần cải cách, quy chuẩn quốc tế, cắt giảm chi phí tuân thủ cho khu vực sản xuất.
Quản lý theo chuỗi rủi ro và bài toán năng lực hậu kiểm
Chiều ngày 4/9/2026, tại Hà Nội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức Hội thảo góp ý hoàn thiện dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Sự kiện quy tụ đại diện cơ quan soạn thảo Bộ Y tế, các cơ quan của Quốc hội cùng đông đảo cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng.

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Hải Anh
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của đạo luật này đối với cả sức khỏe cộng đồng lẫn hoạt động kinh tế. Năm 2025, xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam đạt gần 70 tỷ USD, minh chứng cho năng lực đáp ứng những tiêu chuẩn an toàn thực phẩm khắt khe nhất thế giới của doanh nghiệp trong nước.
Cộng đồng doanh nghiệp đồng thuận cao với định hướng cải cách tại Thông báo 15-TB/BCĐTW và Nghị quyết 184/NQ-CP: chuyển từ kiểm soát từng khâu riêng lẻ sang quản lý toàn bộ chuỗi giá trị dựa trên nguy cơ. Tinh thần của Nghị định 15/2018/NĐ-CP cần được kế thừa, trong đó trao quyền chủ động cho doanh nghiệp đi kèm trách nhiệm, đồng thời tập trung nguồn lực nhà nước vào nhóm có rủi ro cao. Vấn đề cốt lõi không phải là quay lại cơ chế “tiền kiểm” mà là làm cho hệ thống “hậu kiểm” thực sự có năng lực, công cụ và tính răn đe.
Thảo luận chi tiết về các quy định kỹ thuật, đại diện các hiệp hội ngành hàng lớn đã thẳng thắn chỉ ra nhiều bất cập giữa thiết kế chính sách và thực tiễn sản xuất.
Cụ thể, nguy cơ biến “công bố” thành tiền kiểm và gánh nặng hồ sơ, theo Hiệp hội Sữa Việt Nam (VDA) cảnh báo quy định mới yêu cầu tới 14 loại tài liệu trong hồ sơ công bố (gấp 3,5- 7 lần hiện hành), bao gồm các báo cáo R&D hay nghiên cứu độ ổn định vốn chỉ hợp lý với thực phẩm bảo vệ sức khỏe. Nếu áp dụng đại trà, đa số thực phẩm thông thường và sản phẩm truyền thống sẽ không thể công bố, buộc doanh nghiệp phải dừng sản xuất. VDA nhấn mạnh việc phải chờ cơ quan quản lý tiếp nhận, cấp mã mới được lưu hành thực chất là một hình thức “tiền kiểm” mới, đẩy hàng trăm nghìn sản phẩm lưu hành hợp pháp rơi vào nguy cơ ách tắc.
Thắt chặt quy định nhập khẩu và rào cản chi phí, Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham Việt Nam) cũng nêu rõ việc yêu cầu thông báo kết quả đạt yêu cầu cho từng lô hàng nhập khẩu (kể cả phương thức kiểm tra giảm) sẽ làm tăng nguy cơ ùn tắc nghiêm trọng tại cửa khẩu, đặc biệt với hàng tươi sống. Dựa trên tính toán thực tế, EuroCham ước tính các thủ tục tiền kiểm mới cùng yêu cầu đăng ký/công bố lại có thể làm phát sinh chi phí tuân thủ lên tới hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm cho cộng đồng doanh nghiệp, bào mòn đáng kể mức tiết kiệm hàng năm mà Nghị định 15/2018 từng mang lại.
Khoảng trống pháp lý về nguyên liệu B2B và hàng xuất khẩu, bà Trần Hoàng Yến, đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) chỉ ra khoảng trống lớn khi dự thảo chưa có quy định về ngưỡng mặc định (MRL) cho hoạt chất chưa thiết lập tiêu chuẩn và ngưỡng tham chiếu (RPA) với chất bị cấm nhưng phát hiện ở mức vết. VASEP đề xuất bổ sung cơ chế này theo thông lệ của EU và Nhật Bản để tạo căn cứ pháp lý thống nhất cho phòng thử nghiệm và cơ quan quản lý.
Bên cạnh đó, VASEP kiến nghị miễn công bố tiêu chuẩn với nguyên liệu B2B phục vụ chế biến tiếp và khẳng định nguyên tắc thực phẩm xuất khẩu chỉ cần đáp ứng quy định của nước nhập khẩu, tránh buộc doanh nghiệp phải gánh thêm các tiêu chuẩn nội địa không cần thiết.
Bảo đảm tính khả thi từ thực thi bộ máy đến hạ tầng dữ liệu
Tại hội thảo, đại diện VCCI, ông Đậu Anh Tuấn, bổ sung ba vấn đề mang tính bao trùm cần được làm rõ trong quá trình hoàn thiện dự thảo luật:
Rõ ràng về mô hình bộ máy: Dù thống nhất một đầu mối quản lý là chủ trương đúng, luật cần quy định rõ cơ quan chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra và xử lý khi xảy ra sự cố an toàn thực phẩm.
Tương thích với năng lực thực thi: Trong bối cảnh chính quyền hai cấp mới vận hành, cán bộ tuyến xã chủ yếu kiêm nhiệm và thiếu phòng thử nghiệm, nếu luật đặt ra quá nhiều nghĩa vụ mới sẽ dẫn đến tình trạng “quy định nằm trên giấy” với khu vực phi chính thức, trong khi khu vực chính thức gánh toàn bộ chi phí tuân thủ.
Thống nhất giữa Luật và Nghị định: Việc Bộ Y tế trình đồng thời hai dự thảo là rất tích cực. Các nội dung về thành phần hồ sơ, thời hạn, phương thức kiểm tra trong Nghị định cần được góp ý đồng bộ với Luật.
VCCI khẳng định không cho rằng mọi thủ tục đều là gánh nặng hay mọi kiến nghị của doanh nghiệp đều đúng. Những yêu cầu mới để nâng chuẩn chất lượng là cần thiết, nhưng phải dựa trên đánh giá tác động đầy đủ, có căn cứ khoa học và bảo đảm tính khả thi.
Toàn bộ ý kiến tại hội thảo sẽ được VCCI tổng hợp trung thực gửi tới Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội và Bộ Y tế để hoàn thiện dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đạt chất lượng cao nhất.


