Sửa Luật Dầu khí để ngành năng lượng bứt phá
Bộ Tư pháp vừa tiến hành thẩm định chính sách của dự án Luật Dầu khí (sửa đổi). Việc sửa đổi Luật Dầu khí lần này nhằm tạo hành lang pháp lý để ngành dầu khí bứt phá trong bối cảnh mỏ cũ suy giảm, mỏ mới cận biên, địa chất phức tạp và áp lực chuyển dịch năng lượng ngày càng gia tăng.
Không còn ở giai đoạn dễ khai thác
Theo Tờ trình của Bộ Công Thương, ngành dầu khí hiện nay không còn thuận lợi như trước: Sản lượng nhiều mỏ hiện hữu suy giảm; mỏ mới phần lớn là mỏ cận biên, trữ lượng thấp; thăm dò ở vùng nước sâu, xa bờ đối mặt địa chất phức tạp; giá dầu thô biến động khó lường.

Giàn khoan dầu khí mỏ Bạch Hổ.
Nói cách khác, hiện nay, ngành dầu khí không còn ở thời kỳ dễ khai thác như trước đây. Muốn duy trì vai trò đóng góp cho ngân sách và tăng trưởng, ngành dầu khí buộc phải bước vào giai đoạn đầu tư lớn hơn, rủi ro cao hơn, công nghệ phức tạp hơn.
Trong bối cảnh đó, việc hoàn thiện cơ chế, chính sách là hết sức cần thiết nhằm tạo hành lang pháp lý để ngành dầu khí bứt phá trong giai đoạn mới.
Năm nhóm chính sách lớn
Dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) tập trung vào 5 nhóm chính sách lớn.
Thứ nhất, hoàn thiện, đơn giản hóa thủ tục và tăng cường phân quyền trong điều tra cơ bản và hoạt động dầu khí. Đây là điểm then chốt để rút ngắn chu kỳ dự án - yếu tố đặc biệt quan trọng với ngành có chi phí vốn cao và rủi ro thị trường lớn.
Thứ hai, bổ sung, hoàn thiện quy định về hợp đồng dầu khí. Khi điều kiện khai thác ngày càng khó khăn, hợp đồng phải đủ linh hoạt để chia sẻ rủi ro, nhưng vẫn bảo đảm lợi ích quốc gia.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế ưu đãi đầu tư. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đề nghị nghiên cứu cơ chế đặc thù để huy động nguồn lực tư nhân, nhất là trong bối cảnh mỏ cận biên và vùng nước sâu đòi hỏi vốn lớn, công nghệ cao.
Thứ tư, xây dựng cơ chế phát triển chuỗi giá trị dầu khí, gắn kết dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao với năng lượng ngoài khơi. Đây là sự thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh từ khai thác tài nguyên đơn thuần sang phát triển hệ sinh thái công nghiệp - dịch vụ.
Thứ năm, lần đầu tiên đặt ra khung pháp lý về giảm phát thải khí nhà kính, thu giữ và lưu trữ carbon (CCS/CCUS) trong hoạt động dầu khí. Quy định này cho thấy quyết tâm của nước ta trong việc tham gia vào xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, hướng tới năng lượng xanh.
Sửa Luật Dầu khí trong mối liên hệ với nghị quyết chiến lược
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đưa ra một góc nhìn rất đáng lưu tâm, đó là phải đặt việc sửa Luật Dầu khí trong mối liên hệ với các nghị quyết lớn của Bộ Chính trị như Nghị quyết 57 về đột phá khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Giàn khoan dầu khí mỏ Sư Tử vàng.
Nhìn từ những nghị quyết chiến lược của Đảng, việc sửa Luật Dầu khí bên cạnh không chỉ để khắc phục những bất cập của luật hiện hành mà còn là để tạo nền tảng để ngành dầu khí trở thành ngành mũi nhọn có năng lực cạnh tranh quốc tế, làm chủ dịch vụ kỹ thuật cao và từng bước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Nếu không gắn kết với chiến lược khoa học, công nghệ và hội nhập, ngành dầu khí sẽ khó vượt qua việc chủ yếu khai thác tài nguyên thô và phụ thuộc vào biến động giá thế giới.
Yêu cầu minh bạch khi ưu đãi đầu tư
Các thành viên Hội đồng Thẩm định đồng thuận về sự cần thiết sửa đổi Luật Dầu khí, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu làm rõ cơ chế ưu đãi và trách nhiệm của các chủ thể.
Trong bối cảnh mỏ ngày càng khó, ưu đãi là điều tất yếu để thu hút đầu tư. Nhưng ưu đãi phải minh bạch, có tiêu chí rõ ràng, gắn với đánh giá hiệu quả kinh tế, kỹ thuật cụ thể từng mỏ, từng giai đoạn.
Có ý kiến đề xuất yêu cầu có cơ chế đánh giá hiệu quả kinh tế gắn với hồ sơ phát triển mỏ, báo cáo trữ lượng, kế hoạch phát triển mỏ. Đề xuất này nhằm mục tiêu vừa siết chặt quản lý tài chính, vừa bảo đảm tài nguyên quốc gia được khai thác tối ưu, tránh thất thoát.
Các thành viên Hội đồng cũng đề nghị, ưu đãi đặc biệt cho các mỏ cần được thiết kế tương thích với Luật Đầu tư, pháp luật về thuế và các luật liên quan, tránh tình trạng luật này “mở”, luật khác lại “siết”.
Dầu khí và cam kết về môi trường
Một điểm quan trọng được nêu ra để sửa luật lần này là việc đưa cơ chế giảm phát thải, thu giữ và lưu trữ carbon vào luật. Điều này phản ánh quyết tâm của nước ta trong việc thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 và tham gia xu hướng chuyển dịch năng lượng cùng với cộng đồng quốc tế.
Vấn đề được các thành viên Hội đồng Thẩm định nêu ra là cơ chế giám sát, thu hồi chi phí cho các dự án lưu trữ carbon phải minh bạch, tránh biến ưu đãi môi trường thành kẽ hở tài chính.
Nếu thiết kế tốt, CCS/CCUS sẽ giúp giảm phát thải, đồng thời mở ra một lĩnh vực công nghiệp mới, gắn với dịch vụ dầu khí kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi.
Ngành kinh tế đặc thù
Dầu khí là ngành kinh tế đặc thù, có liên quan mật thiết với nhiều vấn đề quan trọng, mang tầm quốc gia và quốc tế. Các thành viên Hội đồng Thẩm định cùng cho rằng, dầu khí là lĩnh vực liên quan tới quốc phòng, an ninh, chủ quyền biển đảo và vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Vì vậy, có lẽ, chúng ta không nên coi Luật Dầu khí (sửa đổi) không phải là đạo luật kinh tế ngành thông thường. Nó là công cụ pháp lý bảo đảm khai thác hiệu quả tài nguyên, củng cố hiện diện kinh tế trên biển, duy trì an ninh năng lượng và nâng cao năng lực công nghệ quốc gia.
Với tinh thần đó, có thể khẳng định rằng, việc sửa Luật Dầu khí trong bối cảnh hiện nay là hết sức cần thiết. Nếu việc sửa đổi khắc phục được các bất cập của luật hiện hành, đồng thời bổ sung những quy định phù hợp thì ngành dầu khí mới có thể đáp ứng được yêu cầu vừa thích ứng với chuyển dịch năng lượng toàn cầu, vừa giữ vững vai trò trụ cột trong giai đoạn phát triển mới.












