'Sức nóng' hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản thể hiện trên cả phương diện lượng và chất

Chia sẻ với TG&VN trước thềm Diễn đàn hợp tác địa phương Việt - Nhật (được tổ chức ngày 6/9 tại TP. Huế), Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu nhấn mạnh hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản đang chuyển mạnh từ giao lưu, tìm hiểu lẫn nhau sang “đồng hành phát triển”, cùng giải quyết những bài toán cụ thể. Trong giai đoạn mới, các địa phương cần chủ động xác định lợi thế, thiết kế dự án và kết nối đúng đối tác để biến tiềm năng hợp tác thành những kết quả thực chất.

Lễ trao các văn bản hợp tác giữa địa phương, doanh nghiệp hai nước tại Diễn đàn hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản ngày 25/11/2025 tại Quảng Ninh. (Ảnh: Thành Long)

Lễ trao các văn bản hợp tác giữa địa phương, doanh nghiệp hai nước tại Diễn đàn hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản ngày 25/11/2025 tại Quảng Ninh. (Ảnh: Thành Long)

Xin Đại sứ cho biết ý nghĩa của Diễn đàn Hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản năm nay, tiếp nối thành công của Diễn đàn được tổ chức tháng 11 năm ngoái tại Quảng Ninh, qua đó nhận định về “sức nóng” trong hợp tác địa phương hai nước thời gian qua?

Có thể nói, việc Diễn đàn Hợp tác địa phương Việt Nam – Nhật Bản được tổ chức lần thứ hai tại thành phố Huế chỉ chưa đầy một năm sau Diễn đàn lần thứ nhất tại Quảng Ninh là một minh chứng rất rõ cho “sức nóng” cũng như nhu cầu hợp tác ngày càng lớn giữa các địa phương hai nước.

Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu. (Ảnh: Chu Văn)

Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu. (Ảnh: Chu Văn)

Diễn đàn lần thứ nhất tại Quảng Ninh tháng 11/2025 đã tạo ra một dấu mốc quan trọng. Đây là lần đầu tiên hai nước tổ chức một diễn đàn quy mô lớn, chuyên sâu về hợp tác địa phương, với sự tham dự của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, lãnh đạo các bộ, ngành, 33/34 địa phương của Việt Nam, đại diện 19 địa phương Nhật Bản cùng hàng trăm doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức của hai nước. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở quy mô với hơn 800 đại biểu, mà quan trọng hơn là Diễn đàn đã cho thấy hợp tác địa phương Việt Nam – Nhật Bản đang chuyển từ giai đoạn chủ yếu giao lưu, tìm hiểu lẫn nhau sang giai đoạn “đồng hành phát triển”, cùng giải quyết những bài toán phát triển cụ thể.

Tiếp nối thành công đó, Diễn đàn lần thứ hai tại Huế có ý nghĩa trên ít nhất ba phương diện.

Thứ nhất, Diễn đàn tiếp tục thể chế hóa một cơ chế kết nối thường xuyên giữa các địa phương hai nước. Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản đã có nền tảng chính trị rất vững chắc ở cấp Trung ương. Điều quan trọng hiện nay là làm thế nào để những định hướng chiến lược của Lãnh đạo hai nước được chuyển hóa thành các chương trình, dự án cụ thể tại từng địa phương, đi vào đời sống của người dân và hoạt động của doanh nghiệp. Diễn đàn chính là một trong những cơ chế để thực hiện điều đó.

Thứ hai, Diễn đàn năm nay diễn ra trong một bối cảnh rất mới. Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, 34 tỉnh, thành phố của Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển với không gian kinh tế lớn hơn, nguồn lực được tích hợp tốt hơn và nhu cầu thu hút nguồn lực quốc tế cũng cao hơn. Nhiều địa phương sau hợp nhất có một cấu trúc phát triển hoàn toàn mới, ví dụ như kết hợp vùng nguyên liệu với cảng biển, công nghiệp với logistics, đô thị với du lịch, khu vực đồng bằng với miền núi. Đây là cơ hội để chúng ta thiết kế lại các trụ cột quan hệ hợp tác địa phương với Nhật Bản theo tư duy mới, không chỉ kế thừa những gì đã có mà còn mở ra những nội dung hợp tác có quy mô và giá trị gia tăng cao hơn.

Thứ ba, việc lựa chọn thành phố Huế đăng cai Diễn đàn cũng có ý nghĩa rất đặc biệt. Huế là một trung tâm văn hóa, di sản, giáo dục lớn của Việt Nam, đồng thời có lịch sử giao lưu sâu sắc với nhiều địa phương Nhật Bản. Đây là nơi rất phù hợp để chuyển tải thông điệp rằng hợp tác địa phương Việt – Nhật không chỉ là hợp tác kinh tế, đầu tư, mà còn là sự kết nối giữa văn hóa, con người, tri thức và các giá trị phát triển bền vững.

Nếu nhìn vào toàn cảnh hiện nay, có thể thấy “sức nóng” của hợp tác địa phương thể hiện cả về lượng và chất. Đến nay, các địa phương hai nước đã ký hơn 110 văn bản hợp tác. Chúng ta chứng kiến ngày càng nhiều chuyến thăm của Thống đốc, Phó Thống đốc, Thị trưởng, lãnh đạo hội đồng địa phương Nhật Bản tới Việt Nam; nhiều đoàn đi cùng hàng chục doanh nghiệp. Ở chiều ngược lại, các tỉnh, thành Việt Nam cũng ngày càng chủ động sang Nhật Bản xúc tiến đầu tư, tìm kiếm công nghệ, thị trường, đối tác đào tạo và nguồn lực phát triển.

Điều tôi cho rằng đáng mừng hơn cả là nội hàm hợp tác đang thay đổi. Bên cạnh những lĩnh vực truyền thống như thương mại, đầu tư, nông nghiệp, du lịch, lao động, giao lưu văn hóa, hiện nay hai bên nói ngày càng nhiều về bán dẫn, AI, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, hydrogen, năng lượng sạch, đô thị thông minh, logistics lạnh, y tế, chăm sóc người cao tuổi, phòng chống thiên tai và đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Nói cách khác, hợp tác địa phương đang phản ánh rất nhanh những ưu tiên phát triển mới của cả Việt Nam và Nhật Bản. Đó chính là lý do tôi cho rằng đây không còn đơn thuần là một kênh giao lưu hữu nghị, mà đã trở thành một cấu phần quan trọng của ngoại giao phục vụ phát triển và là một nét rất đặc sắc trong quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Nhật Bản.

Theo Đại sứ, với những trọng tâm phát triển kinh tế hiện nay của hai nước, đặc biệt trong đó có những định hướng phát triển cụ thể dựa trên khoa học - công nghệ của Việt Nam, địa phương hai nước có dư địa ra sao trong thúc đẩy hợp tác?

Tôi cho rằng dư địa còn rất lớn, thậm chí chúng ta mới chỉ khai thác một phần nhỏ so với tiềm năng thực sự. Điểm gặp nhau quan trọng nhất hiện nay là cả Việt Nam và Nhật Bản đều đang đặt khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển.

Đối với Việt Nam, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một đột phá có ý nghĩa chiến lược. Điều đó có nghĩa khoa học – công nghệ không còn chỉ là một lĩnh vực chuyên ngành, mà phải đi vào từng ngành kinh tế, từng địa phương, từng doanh nghiệp và trở thành công cụ trực tiếp nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng.

Ở phía Nhật Bản, những định hướng mới trong Chiến lược tăng trưởng Nhật Bản, “Địa phương sáng tạo 2.0” và các chính sách phát triển vùng cũng đặt trọng tâm rất lớn vào AI, bán dẫn, GX, DX, robot, công nghệ năng lượng, công nghệ sinh học, sản xuất thông minh và xây dựng các cụm công nghiệp mới tại địa phương. Như vậy, hai nước đang có một sự đồng pha rất rõ về nhu cầu phát triển.

Từ góc độ hợp tác địa phương, tôi nhìn thấy ít nhất 6 không gian hợp tác lớn.

Một là, công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ. Nhật Bản có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các địa phương nắm giữ công nghệ lõi trong cơ khí chính xác, vật liệu, linh kiện điện tử, thiết bị y tế, robot, cảm biến và tự động hóa. Trong khi đó, nhiều tỉnh, thành Việt Nam đang hình thành các khu công nghiệp mới, cần nâng cấp chuỗi cung ứng và tăng tỷ lệ nội địa hóa. Nếu kết nối đúng giữa các cụm công nghiệp của hai bên, đây có thể trở thành một hướng hợp tác rất thực chất.

Hai là, bán dẫn, AI và chuyển đổi số. Hợp tác không nhất thiết chỉ bắt đầu từ những dự án đầu tư hàng tỷ USD. Địa phương hoàn toàn có thể bắt đầu từ các bài toán cụ thể như quản trị đô thị thông minh, số hóa du lịch, y tế số, giáo dục số, quản lý giao thông, quản lý môi trường, dự báo thiên tai, quản lý cảng biển, AI trong sản xuất và nông nghiệp. Chính các bài toán cụ thể của địa phương là “đầu bài” tốt nhất để doanh nghiệp và viện nghiên cứu hai nước cùng phát triển giải pháp.

Ba là, chuyển đổi xanh và năng lượng. Việt Nam có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo, trong khi Nhật Bản có thế mạnh về công nghệ tiết kiệm năng lượng, hydrogen, ammonia, pin lưu trữ, quản lý năng lượng, xử lý chất thải, kinh tế tuần hoàn và xây dựng khu công nghiệp xanh. Việc gắn hợp tác giữa các địa phương với những sáng kiến lớn như AZEC sẽ tạo điều kiện để các dự án xanh đi từ cấp quốc gia xuống cấp địa phương.

Bốn là, nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp thực phẩm. Đây là lĩnh vực có tính bổ trợ gần như tự nhiên. Việt Nam có đất đai, khí hậu, vùng nguyên liệu và nguồn nhân lực; Nhật Bản có công nghệ giống, canh tác chính xác, nhà kính, cảm biến, chế biến, bảo quản, logistics lạnh, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn hóa chất lượng. Tôi cho rằng cần chuyển mạnh từ hợp tác “trồng cây gì, nuôi con gì” sang xây dựng chuỗi giá trị nông nghiệp tiêu chuẩn Nhật Bản, từ sản xuất đến chế biến, logistics và tiêu thụ.

Năm là, đào tạo nguồn nhân lực. Đây có thể nói là lĩnh vực quyết định thành công của tất cả các lĩnh vực còn lại. Việt Nam có lực lượng lao động trẻ, Nhật Bản có nhu cầu nhân lực lớn nhưng tiêu chuẩn kỹ năng ngày càng cao. Hai bên nên chuyển từ mô hình “đưa lao động sang làm việc” sang mô hình cùng đào tạo, cùng sử dụng, cùng nâng cấp kỹ năng. Đặc biệt cần mở rộng đào tạo kỹ sư, kỹ thuật viên, chuyên gia IT, bán dẫn, AI, robot, điều dưỡng, nông nghiệp công nghệ cao và quản lý sản xuất.

Sáu là, kết nối đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp – địa phương. Tôi đánh giá đây là khâu Việt Nam cần khai thác mạnh hơn. Nhật Bản có nhiều trường đại học, viện nghiên cứu rất mạnh nằm trong và ngoài Tokyo, gắn chặt với hệ sinh thái công nghiệp của địa phương. Nếu một địa phương Việt Nam có thể kết nối đồng thời với chính quyền tỉnh, trường đại học và các doanh nghiệp Nhật Bản, quan hệ hợp tác sẽ có nền tảng bền vững hơn rất nhiều.

Tuy nhiên, muốn biến dư địa thành dự án thực tế, tôi cho rằng cần thay đổi phương thức xúc tiến. Một địa phương không nên sang Nhật Bản với một danh sách dài hàng chục lĩnh vực “đều ưu tiên”. Cần xác định rõ 2-3 lợi thế so sánh, 3-5 dự án cụ thể và nhóm đối tác mục tiêu. Nhật Bản là thị trường đánh giá rất cao sự chuẩn bị, tính nhất quán và tầm nhìn dài hạn.

Nói một cách ngắn gọn, trong giai đoạn tới, hợp tác địa phương phải chuyển từ “hợp tác theo quan hệ” sang “hợp tác theo bài toán phát triển”, từ giới thiệu tiềm năng sang cùng thiết kế dự án, từ xúc tiến chung sang xúc tiến chuyên ngành và từ ký MOU sang xây dựng hệ sinh thái hợp tác.

Đại sứ Phạm Quang Hiệu cùng đoàn công tác với Thống đốc tỉnh Nara. (Nguồn: Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản)

Đại sứ Phạm Quang Hiệu cùng đoàn công tác với Thống đốc tỉnh Nara. (Nguồn: Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản)

Ngoại giao phục vụ phát triển giờ đây đã trở thành một mũi nhọn chủ công của mỗi cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nhằm chủ động kết nối các nguồn lực mới cho phát triển. Với địa bàn Nhật Bản, công tác kết nối địa phương hai nước được phát huy như thế nào và với những ví dụ điển hình, thưa Đại sứ?

Đây là vấn đề mà Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản đặc biệt coi trọng. Nếu trước đây công tác hỗ trợ địa phương thường bắt đầu khi một địa phương trong nước gửi đề nghị cần kết nối một đối tác cụ thể, thì hiện nay chúng tôi đang cố gắng chuyển sang cách làm chủ động hơn, dựa trên dữ liệu và nhu cầu phát triển.

Chúng tôi xác định Cơ quan đại diện phải làm tốt ba vai trò.

Thứ nhất là “radar”, tức thường xuyên nắm bắt những chuyển động mới của Nhật Bản: địa phương nào đang thiếu nhân lực, địa phương nào có thế mạnh công nghệ, nơi nào mạnh về bán dẫn, nông nghiệp, hydrogen, logistics, phòng chống thiên tai, du lịch hay chăm sóc người cao tuổi; doanh nghiệp nào đang tìm địa bàn đầu tư mới; trường đại học nào cần đối tác nghiên cứu.

Thứ hai là “bộ lọc và bộ kết nối”. Không phải địa phương nào của Nhật Bản cũng phù hợp với tất cả địa phương Việt Nam. Điều quan trọng là tìm được sự bổ trợ. Một tỉnh Việt Nam mạnh về nông nghiệp cần kết nối khác với một tỉnh có cảng biển và công nghiệp nặng; một địa phương có lợi thế du lịch di sản cần một đối tác khác với địa phương muốn xây dựng hệ sinh thái bán dẫn.

Thứ ba là “người đồng hành sau khi đã kết nối”. Nếu chỉ tổ chức được một cuộc gặp, một chuyến thăm hay một lễ ký kết thì chưa thể coi là hoàn thành nhiệm vụ. Chúng tôi phải tiếp tục theo dõi xem sau cuộc gặp đó doanh nghiệp nào đi khảo sát, trường đại học nào bắt đầu trao đổi, dự án nào hình thành và vấn đề gì cần tháo gỡ.

Trên tinh thần đó, Đại sứ quán đang xây dựng bộ tài liệu bằng tiếng Nhật về 34 tỉnh, thành phố của Việt Nam sau sắp xếp, hệ thống hóa tiềm năng, hạ tầng, nguồn nhân lực, ngành ưu tiên và nhu cầu hợp tác của từng địa phương. Chúng tôi đồng thời vận hành nền tảng AI hỗ trợ tra cứu, kết nối thông tin địa phương Việt Nam – Nhật Bản, qua đó từng bước chuyển công tác xúc tiến từ mô hình thủ công sang mô hình dựa trên dữ liệu. Song song với G2G, chúng tôi tăng cường B2B và B2G, đặc biệt hướng tới mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các địa phương Nhật Bản.

Về một số trường hợp cụ thể, tôi có thể chia sẻ:

Hợp tác giữa tỉnh Gunma – Ninh Bình là một ví dụ đáng chú ý. Tháng 10/2025, Thống đốc Yamamoto Ichita dẫn đoàn chính quyền và doanh nghiệp Gunma sang Ninh Bình, hai bên ký MOU mở rộng hợp tác về đầu tư và giao lưu nguồn nhân lực. Điều quan trọng là quan hệ không dừng tại lễ ký. Tháng 6/2026, đoàn Ninh Bình tiếp tục sang Gunma, làm việc với chính quyền và các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp đang sử dụng lao động Việt Nam và doanh nghiệp có hoạt động tại Ninh Bình. Đây chính là mô hình chúng tôi mong muốn: ký kết MOU, trao đổi đoàn, mở rộng hợp tác doanh nghiệp, nhân lực, hình thành dự án cụ thể… tạo thành một chu trình liên tục.

Hợp tác giữa tỉnh Ehime - Vĩnh Long cũng cho thấy một xu hướng mới. Hai tỉnh ký MOU hợp tác kinh tế đầu năm 2026 trong chuyến thăm Việt Nam của Thống đốc Ehime cùng một đoàn chính quyền, doanh nghiệp quy mô lớn. Trọng tâm không chỉ là giao lưu hữu nghị mà đi thẳng vào kết nối doanh nghiệp, thương mại, đầu tư và nông nghiệp. Đây là hướng đi rất phù hợp với Vĩnh Long sau hợp nhất, khi địa phương này có không gian nông nghiệp, thủy sản và thị trường lớn hơn.

Hợp tác giữa Quảng Ninh - Hokkaido lại là một ví dụ tốt về sự kết hợp giữa kinh tế với văn hóa và giao lưu nhân dân. Hai địa phương duy trì trao đổi đoàn và tổ chức các sự kiện như Lễ hội Hokkaido tại Hạ Long, Lễ hội Việt Nam tại Hokkaido. Những hoạt động này không chỉ tạo tình cảm giữa người dân mà còn kéo theo quảng bá du lịch, sản phẩm địa phương, kết nối doanh nghiệp. Tôi cho rằng đây là một mô hình rất hay bởi quan hệ địa phương muốn bền vững thì phải có sự tham gia của người dân.

Thành phố Huế cũng là một địa phương rất giàu tiềm năng. Thành phố đã có nền tảng hợp tác lâu năm với các địa phương Nhật Bản như tỉnh Nara, cố đô Kyoto, thành phố Shizuoka… trong các lĩnh vực văn hóa, di sản, giáo dục, môi trường và giao lưu nhân dân. Việc Diễn đàn lần thứ hai được tổ chức tại Huế chắc chắn sẽ là cơ hội để mở rộng và nâng tầm những quan hệ hợp tác đó sang các lĩnh vực mới phù hợp với nhu cầu phát triển của địa phương.

Ngoài ra, chúng tôi ngày càng coi trọng cộng đồng gần 700 nghìn người Việt Nam tại Nhật Bản như một nguồn lực cho hợp tác địa phương. Trong cộng đồng này có rất nhiều kỹ sư, nhà khoa học, chuyên gia IT, doanh nhân, sinh viên, lao động kỹ năng đang hiểu đồng thời cả Việt Nam và Nhật Bản. Đây chính là những “cầu nối tự nhiên” mà các địa phương Việt Nam cần biết khai thác tốt hơn.

Mục tiêu cuối cùng của chúng tôi là xây dựng một mô hình kết nối mà ở đó, khi một địa phương Việt Nam đưa ra một nhu cầu cụ thể, Cơ quan đại diện có thể nhanh chóng xác định: địa phương Nhật Bản nào phù hợp, doanh nghiệp nào có công nghệ, trường đại học nào có chuyên môn, nguồn tài chính nào có thể huy động và cộng đồng người Việt nào có thể tham gia. Đó chính là cách chúng tôi hiểu về ngoại giao phục vụ phát triển trong giai đoạn mới.

Thước đo cho hoạt động ngoại giao kinh tế không chỉ nằm ở việc có bao nhiêu thỏa thuận được ký kết mà còn ở việc bao nhiêu thỏa thuận được thực thi trên thực tế và mang lại những hiệu quả cụ thể nào cho địa phương, doanh nghiệp, người dân hai nước. Đại sứ có thể cho biết những thuận lợi và khó khăn trong việc thực thi các thỏa thuận hợp tác song phương, bao gồm ở cấp độ địa phương?

Tôi hoàn toàn đồng tình với cách đặt vấn đề này. Số lượng thỏa thuận là một chỉ số quan trọng, nhưng không phải thước đo cuối cùng.

Thước đo thực sự phải là: sau một MOU có bao nhiêu dự án được hình thành; bao nhiêu doanh nghiệp tìm được đối tác; bao nhiêu lao động được đào tạo tốt hơn; bao nhiêu sinh viên được trao đổi; công nghệ nào được chuyển giao; sản phẩm nào vào được thị trường; và quan trọng nhất, người dân hai địa phương nhận được lợi ích gì.

Về thuận lợi, trước hết, chúng ta có một nền tảng rất quan trọng là tin cậy chính trị cao giữa Việt Nam và Nhật Bản. Quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tạo ra một môi trường rất thuận lợi để các địa phương chủ động hợp tác. Lãnh đạo hai nước đều nhiều lần nhấn mạnh vai trò của hợp tác địa phương, coi đây là một kênh thực chất để đưa quan hệ song phương đi vào chiều sâu.

Thứ hai, hai nước có tính bổ trợ rất cao. Nhật Bản có vốn, công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn, mạng lưới doanh nghiệp và kinh nghiệm phát triển địa phương; Việt Nam có thị trường, nguồn nhân lực, dư địa phát triển, vùng nguyên liệu và nhu cầu rất lớn về nâng cấp cơ sở hạ tầng, công nghiệp và công nghệ.

Thứ ba, quan hệ đã có một mạng lưới xã hội rất rộng. Hơn 110 văn bản hợp tác địa phương, hàng nghìn doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam, cộng đồng gần 700 nghìn người Việt Nam tại Nhật Bản, các hội hữu nghị, trường đại học, JICA, JETRO, hiệp hội kinh tế và các tổ chức xã hội chính là nền tảng để một thỏa thuận có thể được triển khai bằng nhiều kênh khác nhau.

Tuy nhiên, thách thức cũng không ít.

Khó khăn đầu tiên là khoảng cách giữa một MOU mang tính khung và một dự án có khả năng triển khai. Có những MOU đề cập rất nhiều lĩnh vực nhưng chưa xác định rõ dự án, cơ quan đầu mối, nguồn lực và thời hạn thực hiện. Nếu không có kế hoạch hành động ngay sau ký kết thì rất dễ rơi vào tình trạng “ký xong để đó”.

Khó khăn thứ hai là khác biệt về cách làm việc. Đối tác Nhật Bản thường nghiên cứu rất kỹ, thẩm định lâu, đặc biệt coi trọng tính ổn định, minh bạch và khả năng thực hiện cam kết. Trong khi đó, một số hồ sơ xúc tiến của địa phương ta còn mang tính giới thiệu chung, danh mục dự án chưa đủ thông tin về đất đai, hạ tầng, pháp lý, nguồn nguyên liệu, lao động, hiệu quả tài chính hoặc chưa được chuẩn bị tốt bằng tiếng Nhật và tiếng Anh. Hai bên có thiện chí nhưng nếu “đầu bài” chưa rõ thì rất khó đi tiếp.

Khó khăn thứ ba là những vướng mắc trong môi trường đầu tư và triển khai dự án, như thủ tục, đất đai, quy hoạch, hạ tầng khu công nghiệp, logistics, tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường và tính dự báo của chính sách. Đây là những vấn đề mà doanh nghiệp Nhật Bản đặc biệt quan tâm bởi họ thường xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn.

Khó khăn thứ tư là bài toán nguồn nhân lực. Không chỉ thiếu nhân lực kỹ thuật cao ở Việt Nam; bản thân nhiều địa phương và doanh nghiệp Nhật Bản cũng đang thiếu nhân lực và phải cạnh tranh để thu hút lao động nước ngoài. Từ tháng 4/2027, Nhật Bản sẽ triển khai chế độ “việc làm để phát triển kỹ năng” thay thế chế độ thực tập sinh kỹ năng hiện nay. Điều này mở ra cơ hội nhưng cũng đòi hỏi các địa phương, doanh nghiệp và đơn vị đào tạo của Việt Nam phải chuẩn bị tốt hơn về tiếng Nhật, kỹ năng nghề, bảo vệ quyền lợi người lao động và khả năng đào tạo lâu dài.

Một thách thức khác là sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính của Việt Nam, nhiều thỏa thuận trước đây cần được rà soát, kế thừa và điều chỉnh cho phù hợp với không gian phát triển mới. Đây vừa là một việc phải làm, nhưng đồng thời cũng là cơ hội để nâng cấp những MOU cũ, loại bỏ các nội dung không còn phù hợp và bổ sung các lĩnh vực mới.

Theo tôi, để nâng cao hiệu quả thực thi, cần thực hiện một số thay đổi căn bản.

Trước hết, mỗi MOU phải đi kèm một kế hoạch hành động, xác định rõ cơ quan đầu mối hai bên, một số dự án ưu tiên, thời hạn và cơ chế rà soát định kỳ.

Thứ hai, nên bắt đầu bằng những dự án vừa sức nhưng tạo ra kết quả nhìn thấy được. Một chương trình đào tạo 30 kỹ sư, một mô hình nông nghiệp thông minh, một dự án tiết kiệm năng lượng cho khu công nghiệp hay một tuyến du lịch chung triển khai thành công có giá trị hơn rất nhiều so với một danh mục hàng chục lĩnh vực chưa có đầu mối thực hiện.

Thứ ba, doanh nghiệp phải được đặt ở trung tâm, đồng thời mở rộng sự tham gia của trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội, tổ chức xã hội và cộng đồng người Việt Nam. Hợp tác G2G là nền tảng, nhưng để quan hệ sống được thì cần có B2B, B2G và giao lưu nhân dân.

Thứ tư, phải tăng cường công tác hậu xúc tiến. Sau mỗi chuyến thăm, diễn đàn hay lễ ký, cần có cơ chế theo dõi đến cùng. Hiện nay Bộ Ngoại giao cũng đang đẩy mạnh số hóa việc theo dõi các cam kết, thỏa thuận quốc tế. Tại Đại sứ quán, chúng tôi cũng đang xây dựng cơ sở dữ liệu để theo dõi MOU, dự án, doanh nghiệp quan tâm và tiến độ kết nối.

Trên tinh thần đó, tôi cũng mong các địa phương, cơ quan, tổ chức cũng như các đại biểu tham dự Diễn đàn tại Huế năm nay sẽ được nhìn nhận theo hướng: đây không chỉ là nơi gặp gỡ hay ký kết, mà là nơi hình thành những quan hệ hợp tác mới, những dự án mới và những cam kết có thể được đo đếm bằng giá trị thực tế mang lại cho địa phương, doanh nghiệp và người dân hai nước.

Đó cũng chính là cách chúng ta làm cho quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Nhật Bản ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả và bền vững.

Trân trọng cảm ơn Đại sứ!

Vy Anh (thực hiện)

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/suc-nong-hop-tac-dia-phuong-viet-nam-nhat-ban-the-hien-tren-ca-phuong-dien-luong-va-chat-439769.html