Sức sống mới cho giấy dó
Từ lâu, giấy dó đã gắn với tranh dân gian, thư tịch cổ và các sản phẩm truyền thống, giữ vị trí riêng trong đời sống văn hóa Việt. Được làm từ vỏ cây dó theo quy trình thủ công, loại giấy này có độ dai, bền, ít bị mối mọt và khả năng lưu giữ màu sắc tốt, tạo nên những ưu điểm so với nhiều chất liệu khác.

Khách tham quan triển lãm tranh “Sắc dó 4” của họa sĩ Vũ Thái Bình tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Họa sĩ Vũ Thái Bình là một trong những người bền bỉ theo đuổi dòng tranh màu nước trên giấy dó. Hơn 20 năm về trước, đến với giấy dó từ sự tò mò và mong muốn thử nghiệm, nhưng càng gắn bó anh càng nhận ra đây là chất liệu phù hợp tư duy sáng tác của mình.
Vũ Thái Bình chia sẻ, giấy dó là một trong những chất liệu khó chinh phục nhất trong hội họa, chỉ đặt bút sai, người vẽ gần như không có cơ hội sửa chữa vì màu sẽ thấm ngay vào từng sợi giấy. Để tạo được chiều sâu cho tác phẩm, họa sĩ phải kiên nhẫn xử lý nhiều lớp màu, có khi lặp lại hàng chục lần mới đạt được sắc độ mong muốn. Quá trình ấy dựa vào sự trải nghiệm của mỗi cá nhân, từ cách điều khiển lượng nước trên đầu bút đến việc hiểu đặc tính của giấy. “Hơn 20 năm vẽ dó mà có những thứ tôi vẫn chưa ưng ý. Chắc chắn tôi sẽ tiếp tục với dó và sẽ không bao giờ dừng lại”, anh Bình bày tỏ.
Ngoài Vũ Thái Bình, nhiều họa sĩ khác như Đào Thành Duy, Bùi Tiến Tuấn, Đoàn Đức Hùng, Tào Linh… cũng lựa chọn giấy dó để sáng tác. Mỗi người mang đến những cách biểu đạt riêng, góp phần làm phong phú diện mạo tranh giấy dó. Qua nhiều lần tổ chức, các triển lãm chuyên đề như “Góp dó” hay chuỗi triển lãm “Sắc dó” đã góp phần đưa dòng tranh này đến gần hơn với công chúng. Sự quan tâm, đón nhận của người xem cũng trở thành động lực để các nghệ sĩ tiếp tục tìm tòi, mở rộng khả năng biểu đạt của chất liệu truyền thống này.
Không dừng lại ở hội họa, giấy dó còn được thử nghiệm trong các phương thức khác. Nghệ sĩ gấp giấy Nguyễn Hùng Cường, Á quân cuộc thi Origami toàn thế giới năm 2009 là một trong những người đầu tiên đưa chất liệu này vào nghệ thuật gấp giấy. “Giấy dó thấm keo tốt, cộng với độ dai vốn có nên khi hồ xong có thể tạo hình, nắn chỉnh ở những kỹ thuật khó mà giấy không bị rách và giữ nếp rất tốt. Mọi người đều bất ngờ khi giấy dó có thể tạo ra nhiều tác phẩm đẹp như vậy”, Nguyễn Hùng Cường chia sẻ.
Theo anh Cường, việc thử nghiệm giấy dó trong nghệ thuật gấp giấy đã mở rộng khả năng ứng dụng của chất liệu truyền thống này, đồng thời giúp công chúng, nhất là người trẻ có thêm một cách nhìn mới về giấy dó.
Khi nhu cầu sáng tạo với giấy dó ngày càng mở rộng, các cơ sở sản xuất giấy truyền thống cũng có thêm động lực nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng. Làng nghề làm giấy dó Đống Cao thuộc phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh có lịch sử khoảng 800 năm. Với quy trình sản xuất thủ công tỉ mỉ, giấy dó Đống Cao nổi tiếng bởi độ bền cao, trở thành chất liệu được nhiều nghệ sĩ và cơ sở chế tác lựa chọn.
Sinh ra trong gia đình có bốn đời gắn bó với nghề làm giấy dó tại làng, anh Đào Văn Trường cho biết, trước đây giấy dó chủ yếu phục vụ các nhu cầu truyền thống như in tranh, viết sớ cho nên lượng tiêu thụ không nhiều. Nếu khoảng 10 năm trước, mỗi năm làm được khoảng 2 vạn tờ thì hiện nay số lượng lên đến hàng chục vạn tờ.
Từ chỗ chủ yếu cung cấp giấy cho một số lĩnh vực quen thuộc, giấy dó hiện nay được sử dụng rộng rãi hơn trong sáng tác nghệ thuật, các sản phẩm mỹ thuật ứng dụng hay đồ thủ công mỹ nghệ. Nhà nghiên cứu và phê bình mỹ thuật Mai Thị Ngọc Oanh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Mỹ thuật Việt Nam cho rằng, giấy dó tạo nên sức hấp dẫn bởi mỗi tác phẩm trên chất liệu này thường mang tính độc bản. Do đặc tính thấm màu, độ loang và sự biến đổi tự nhiên của bề mặt giấy, người nghệ sĩ khó có thể tạo ra hiệu ứng hoàn toàn giống nhau, khiến mỗi tác phẩm đều có dấu ấn riêng.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/suc-song-moi-cho-giay-do-post980886.html












