Tăng trưởng tín dụng: Hiệu quả không chỉ nằm ở quy mô
Trong bối cảnh nền kinh tế cần duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tín dụng ngân hàng tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong hỗ trợ doanh nghiệp duy trì hoạt động, mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách tín dụng không chỉ nằm ở tốc độ tăng dư nợ mà còn ở khả năng đưa vốn đến đúng đối tượng, đúng nhu cầu, giúp doanh nghiệp chuyển hóa nguồn lực này thành sản phẩm và giá trị gia tăng.

Tín dụng ngân hàng tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những kênh cung ứng vốn chủ lực cho nền kinh tế. Ảnh: TTXVN
Dòng vốn hướng vào khu vực sản xuất, kinh doanh
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), đến ngày 26/10/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 20,8 triệu tỷ đồng, tăng 11,94% so với cuối năm 2025. Với quy mô này, tín dụng ngân hàng tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những kênh cung ứng vốn chủ lực cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Đáng chú ý, khoảng 77,44% tổng dư nợ nền kinh tế phục vụ chủ yếu cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điều đó cho thấy phần lớn nguồn vốn ngân hàng đang được phân bổ vào khu vực trực tiếp tạo ra sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ, góp phần duy trì hoạt động kinh tế, tạo việc làm và thúc đẩy lưu thông hàng hóa.
Xét theo ngành kinh tế, đến cuối tháng 8/2026, thương mại - dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất, với 70,11% tổng dư nợ; công nghiệp - xây dựng chiếm 23,81%; nông, lâm, thủy sản chiếm 6,08%. Trong đó, bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác chiếm 20,46%; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 12%; xây dựng chiếm 7,82% tổng dư nợ.
Cơ cấu này phản ánh khá rõ nhu cầu vốn của nền kinh tế, trong đó, hoạt động thương mại, dịch vụ và lưu thông hàng hóa đang chiếm tỷ trọng lớn trong quan hệ tín dụng với hệ thống ngân hàng. Đặc biệt, tín dụng dành cho công nghiệp chế biến, chế tạo có ý nghĩa quan trọng bởi đây là khu vực trực tiếp tạo ra sản phẩm, nâng cao năng lực sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Đối với lĩnh vực xây dựng, dư nợ tín dụng còn gắn với nhu cầu vốn của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng đang được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh. Đây là điểm đáng chú ý bởi vốn tín dụng không chỉ hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh trước mắt mà còn góp phần bổ sung nguồn lực cho các hoạt động đầu tư, tạo dựng năng lực phát triển trong dài hạn.
Nhìn từ cơ cấu, có thể thấy tín dụng đang đảm nhiệm đồng thời hai chức năng: cung cấp vốn lưu động để duy trì chu kỳ sản xuất, kinh doanh và bổ sung nguồn lực cho đầu tư, mở rộng năng lực sản xuất, qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Giảm chi phí vốn, tiếp sức cho doanh nghiệp cuối năm
Tăng trưởng tín dụng là điều kiện quan trọng để mở rộng hoạt động kinh tế, nhưng để dòng vốn phát huy hiệu quả, chi phí tiếp cận vốn cũng cần được kiểm soát ở mức hợp lý. Đây là một trong những yêu cầu đặt ra đối với chính sách tiền tệ trong bối cảnh nền kinh tế cần thêm động lực tăng trưởng.
Tại phiên thảo luận về tình kinh tế - xã hội ngày 31/10, Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Đức Ấn nhấn mạnh, mục tiêu xuyên suốt của chính sách tiền tệ là ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng; đồng thời khẳng định NHNN tiếp tục tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng đồng hành cùng doanh nghiệp trên cơ sở bảo đảm khả năng thu hồi vốn vay.
Thời gian gần đây, một số ngân hàng tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất huy động, qua đó tạo thêm điều kiện để cân đối chi phí vốn đầu vào và triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng hải (MSB), Ngân hàng Thương mại cổ phần VietABank và Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Kỷ Nguyên Thịnh Vượng (GPBank) vừa giảm 0,5 điểm phần trăm lãi suất huy động tại các kỳ hạn từ 6–36 tháng. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Tài Lộc (Sacombank) cũng điều chỉnh giảm 0,5 điểm phần trăm đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, áp dụng từ ngày 20/10/2026. Diễn biến này nối dài xu hướng giảm lãi suất tại một số ngân hàng, hưởng ứng chủ trương của Chính phủ và NHNN về hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Việc giảm lãi suất huy động có thể góp phần giảm chi phí vốn đầu vào của ngân hàng, tạo dư địa để điều chỉnh lãi suất cho vay. Đối với doanh nghiệp, nhất là những đơn vị có nhu cầu vốn lưu động lớn trong những tháng cuối năm, mặt bằng lãi suất cho vay hợp lý sẽ giúp giảm áp lực tài chính, duy trì sản xuất, hoàn thiện đơn hàng và bổ sung hàng hóa phục vụ thị trường.
Cùng với việc cân đối chi phí vốn đầu vào, các chương trình tín dụng ưu đãi đang được triển khai nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong cao điểm sản xuất, kinh doanh cuối năm.
Khơi thông khả năng hấp thụ, nâng cao hiệu quả dòng vốn
Tuy nhiên, quy mô vốn được đưa ra thị trường không đồng nghĩa với mức đóng góp tương ứng vào tăng trưởng kinh tế. Giảm lãi suất mới chỉ là một trong những điều kiện hỗ trợ; khả năng tiếp cận vốn và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp quyết định mức độ đóng góp thực chất của tín dụng đối với hoạt động kinh tế.
Thực tế, bên cạnh năng lực cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng, khả năng tiếp cận vốn vẫn là vấn đề cần quan tâm, nhất là đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn, dư nợ tín dụng đối với khu vực này đạt hơn 4 triệu tỷ đồng. Đây là quy mô vốn đáng kể trong bối cảnh doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp.
NHNN đã làm việc, tổ chức hội nghị với Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm trao đổi các giải pháp giảm lãi suất, tháo gỡ khó khăn và nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp. Đáng chú ý, các phương thức cho vay dựa nhiều hơn vào năng lực hoạt động thực tế, đặc biệt là khả năng tạo dòng tiền và trả nợ của doanh nghiệp cũng được quan tâm.
Thế nhưng, dư nợ lớn chưa đồng nghĩa mọi doanh nghiệp đều có cơ hội tiếp cận vốn thuận lợi. Theo Thống đốc, những hạn chế phổ biến của doanh nghiệp nhỏ và vừa là quy mô vốn nhỏ, sức chống chịu yếu, phương án kinh doanh thường xuyên biến động và thông tin tài chính chưa thực sự minh bạch.
Tình trạng doanh nghiệp sử dụng những bảng cân đối tài chính khác nhau khi thực hiện nghĩa vụ thuế và khi vay vốn ngân hàng là một trong những vấn đề đáng lưu ý. Khi thông tin tài chính thiếu nhất quán, tổ chức tín dụng khó đánh giá chính xác năng lực hoạt động, dòng tiền và khả năng trả nợ. Điều này không chỉ làm tăng rủi ro tín dụng mà còn thu hẹp cơ hội tiếp cận vốn của chính doanh nghiệp.
Thống đốc khẳng định NHNN sẽ khuyến khích các tổ chức tín dụng thực hiện cho vay trên cơ sở đánh giá năng lực thực tế của doanh nghiệp, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để các tổ chức tín dụng yên tâm khi triển khai các chương trình tín dụng.
Vì vậy, bài toán tín dụng không thể chỉ được giải quyết từ phía ngân hàng thông qua giảm lãi suất hay mở rộng quy mô cho vay. Doanh nghiệp cũng cần chủ động nâng cao năng lực quản trị, minh bạch thông tin tài chính, xây dựng phương án kinh doanh khả thi và chứng minh khả năng trả nợ. Đây là những điều kiện quan trọng để nâng cao khả năng tiếp cận vốn, đồng thời giúp ngân hàng có cơ sở phân bổ nguồn lực tín dụng hiệu quả hơn./.
