Thẳm bóng ngựa trên đường thiên lý
VHXQ - Đôi, ba thập niên trước, khi về với làng lụa Mã Châu bên dòng sông Thu, nhìn lại dằng dặc thời gian trôi trên những biền dâu lơ thơ còn sót lại, không hiểu sao tôi cứ liên tưởng tới hình ảnh con ngựa. Bóng ngựa cần mẫn thồ gánh những pho lịch sử trầm tích cùng bao nhiêu phù sa ấm lạnh ngàn năm là bấy nhiêu miên tầng văn hóa.

Hình ảnh Xa - cỗ xe tứ mã được khắc trên Huyền đỉnh. Ảnh: T.L
1. Như một buổi mờ sương nào đó đã rất lâu ngồi trên đỉnh ngọn Đèo Cả đất Phú Yên xưa ngắm lau trắng, sim mua mà hình dung mỗi hòn đá ngọn cỏ, tàng cây nơi linh sơn này phóng khoáng, mạnh mẽ kiêu bạc như những con người cúi rạp trên lưng ngựa, phóng như bay không ngưng nghỉ suốt bốn trăm năm.
Ở Mã Châu, ngày ấy tôi đã làm thơ “Mã Châu Mã Châu con ngựa lụa/ trốn điên cuồng trong đêm/ gió lụa/ lạnh xé/ Thu Bồn mang bầu/ đêm đêm trở mình trên lụa/ - Mã Châu/ chở người đàn bà của tôi đi đâu/ ngàn năm thâu...”.
Hơn 700 năm mở cõi phương Nam, luôn thấp thoáng bóng người trên bóng ngựa. Dằng dặc cuộc Nam chinh qua các triều đại là những “thiên lý câu” (tuấn mã nghìn dặm). Rồi vó ngựa băng băng cùng người suốt những cuộc trường chinh giữ nước.
Sử xưa chép lại, 17 tháng 3 năm Mậu Tý, sau chiến thắng Bạch Đằng, triều đình làm lễ mừng thắng trận ở lăng tiên đế Trần Thái Tông (Chiêu Lăng). Tại đây, trông thấy chân mấy con ngựa đá đều lấm bùn vì trước đó giặc Nguyên đã phá Chiêu Lăng và định đập bỏ ngựa mà chưa kịp, vua Trần Nhân Tông đã ngâm đôi câu thơ bất hủ “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/ Sơn hà thiên cổ điện kim âu” (Xã tắc hai phen chồn ngựa đá/ Non sông nghìn thuở vững âu vàng” (Trần Trọng Kim dịch).
2. Miền Trung - đôi vai đỡ lấy chiếc đòn gánh thiên lý Bắc - Nam suốt ngàn năm lịch sử dằng dặc truông sâu, đèo hiểm. Từ thời vua Gia Long, quan lộ (như hướng quốc lộ bây giờ) được đắp bằng đất, và cứ khoảng 4.000 trượng (16km) lại cho làm một cái nhà trạm (dịch trạm) bên đường cái quan. Chữ “dịch” (驛) nghĩa là “ngựa trạm”, trong đó có bộ mã. Phương tiện di chuyển suốt dọc đường cái quan thời ấy đều trên lưng ngựa.
Địa phận Quảng Nam từ Hải Vân Quan đến núi Phong (Quảng Ngãi) thời đó có 7 dịch trạm, thì riêng khu vực đèo Hải Vân bởi tính chất hiểm trở đã có 2 trạm, là trạm Nam Chơn trên đèo và Nam Ổ (Nam Ô ngày nay).
Theo tài liệu của ông Đặng Dùng (Đặng Phương Trứ), “người chép sử làng” Nam Ô, thì nhà trạm Nam Ổ còn được gọi là Thành Cung. Từ ký ức xa xưa của các bô lão, Thành Cung được xây dựng trên khu đất rộng với nhà ngang nhà dọc, tường gạch, mái lợp ngói âm dương, có giếng nước bằng đá (giếng Thành Cung), chuồng nhốt hơn 10 con ngựa, xung quanh tường cao bằng đá đắp đất, ngoài cùng có hào sâu, có vọng lâu như đồn lũy, cổng mở về hướng tây ra đường cái quan. Dấu tích duy nhất hiện còn lại là giếng Thành Cung nay nằm giữa khu dân cư đông đúc.
Trong cuộc kháng chiến đầu tiên chống Pháp từ 1858, triều Nguyễn đặc biệt coi trọng các dịch trạm quanh đèo Hải Vân, bởi đó là huyết mạch thông tin chỉ huy giữa triều đình và quân thứ các địa phương.
Trong “Dưới tầng mây ải”, ông Đặng Dùng mô tả: “Ngày đêm pháo lệnh ngựa xuất nhập trạm nổ ròn rã. Ngựa trạm với cờ mang chữ “mã thượng phi đệ” (phi ngựa giao nhanh) phi nước đại vó ngựa dập dồn, mang chỉ dụ từ kinh đô đến quân thứ hay cấp báo tình hình chiến sự ngược lại. Nhờ đó triều đình kịp thời hỗ trợ những nhu cầu của chiến trường quân thứ...”.
Còn từ năm 1860 khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha rút đi, “các nhà trạm trở lại hoạt động thong thả, với ngựa trạm đi nước kiệu mang cờ “mã thượng trì đệ” (chạy ngựa giao bình thường). Ngựa nhà trạm vẫn chậm rãi ngược xuôi qua các trạm Nam Ổ, Nam Chơn dưới tầng mây ải mịt mù này”.
Đọc lại “Hải ngoại kỷ sự” của thiền sư Trung Hoa Thích Đại Sán thấy kể rằng khi đoàn các sư từ Hội An ra kinh thành Thuận Hóa đã được vua cấp hàng trăm phu ngựa, “phu ngựa giăng dài vài dặm”. Những điều mô tả trong cuốn du ký này là dịp hiếm hoi để hình dung về khung cảnh của Đà Nẵng 330 năm về trước. Khi đi ngang qua chùa Tam Thai ở Ngũ Hành Sơn, vị thiền sư đã để lại thơ rằng “Vương trình thôi dịch sứ/ Dã hứng kết yên la/ Lưu thủ thiên biên nguyệt/ Kim tiêu chiếu cựu a” (Đường quan giục ngựa trạm/ Đồng nội tỏa khói mờ/ Vằng vặc trăng một tấm/ Đêm nay chiếu người xưa”.

Đội mã binh của triều đình nhà Nguyễn. Ảnh: T.L
3. Với các bậc quân vương dường như đã thành quy ước, khi vào giấc thiên thu luôn có những tuấn mã trung thành cận kề. Canh giữ nơi lăng tẩm của 6 vị vua nhà Nguyễn là bầy ngựa đá được khắc tạc cao lớn, chạm trổ uy nghi.
Hình tượng ngựa đã 2 lần được đúc nổi trên Cửu đỉnh (9 đỉnh đồng trong Đại Nội ở khu Thế Miếu, đã được phong là Bảo vật quốc gia). Trên Anh đỉnh là chú ngựa (Mã) được chạm khắc vào năm Minh Mạng thứ 17, dáng thon gọn, săn chắc. Còn trên Huyền đỉnh là biểu tượng Xa (xe), gồm 4 chú ngựa kéo cỗ xe tứ mã vốn dành riêng cho nhà vua, hoàng gia, quan đầu triều...
Và luôn còn đó những chiến mã băng mình giữa đời sống nhân quần gian lao và lấm láp. Chu Thần Cao Bá Quát một buổi sáng đi trên sông Hương chợt thảng thốt “Trường giang như kiếm lập thanh thiên” (Sông dài như kiếm dựng trời xanh), nhưng rồi cũng nhận ra “Kiều đầu xa mã phi ngô sự/ Phả ái nam phong giác chấm biên”.
Chốn phồn hoa dập dìu ngựa xe đâu phải điều ta nghĩ đến, chỉ thích gối đầu lên gió nam làm một giấc yên. Để người đời sau nhận ra rằng cuộc đời đắng cay và bi tráng của Cao Chu Thần chính là con ngựa quý tung mình trong bão gió (Bảo mã tây phong) mà ngạo nghễ với vương quyền.
Đứng trước đàn ngựa đá nơi lăng tẩm rêu phong, nhà thơ Ngô Minh nghĩ về biết bao người lính vô danh, cũng như những chú ngựa không tên tuổi “Biết tìm đâu người lính buổi xa xăm/ Ai đang còn bạc phơ râu tóc/ Nấm cỏ vô danh - ai người đã khuất/ Nhớ cuồng chân ngựa hóa đá đứng chờ” (Ngựa đá và hoa cỏ).
Thẳm bóng ngựa giữa thời gian. Có một hình ảnh trác tuyệt được lưu giữ trên Ải Vân Quan, được danh sĩ Mai Nham Trần Bích San thời vua Tự Đức ghi lại trong bài thơ “Tam thướng Hải Vân” (Ba lần lên Hải Vân)
Hưu đạo Tần quan chinh lộ hiểm
Mã đầu hoa tận đới yên khai
(Thôi đừng nói đường qua ải Tần là hiểm trở/ Nơi đầu ngựa, hoa đều đội mây mà nở). Càng đẹp hơn qua bản dịch thơ của Đông Xuyên Nguyễn Gia Trụ:
Ải Tần ai bảo đường đi hiểm?
Đầu ngựa tơi bời khói cuộn hoa.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/tham-bong-ngua-tren-duong-thien-ly-3324143.html











