Thị trường tín chỉ carbon bước vào giai đoạn thanh lọc, Việt Nam nên làm gì?

Việt Nam kết nối thị trường tín chỉ carbon trong nước với thế giới vào thời điểm tín chỉ carbon chất lượng cao chiếm ưu thế, do đó cần có giải pháp phù hợp để không bị loại khỏi cuộc chơi carbon toàn cầu.

Người dân vùng Cao Quảng đi tuần rừng và phân định ranh giới rừng. Ảnh: Trần Thị Lành. 

Người dân vùng Cao Quảng đi tuần rừng và phân định ranh giới rừng. Ảnh: Trần Thị Lành. 

Theo số liệu từ tổ chức tư vấn Climate Focus, nửa đầu năm 2026, có khoảng 98 triệu tín chỉ carbon được phát hành trên toàn cầu, giảm gần 32% so với cùng kỳ năm ngoái. Dự báo, cả năm 2026, số lượng tín chỉ carbon được phát hành rơi vào khoảng 200 triệu, tiếp tục đà sụt giảm kéo dài nhiều năm nay.

Tuy nhiên, tốc độ sụt giảm đang diễn ra nhanh hơn. Số tín chỉ carbon phát hành năm 2025 đạt 281 triệu, giảm 3,4% so với 2024 và giảm 22% so với 2021. Trong khi đó, theo như dự báo, năm 2026 có thể chứng kiến mức sụt giảm lên tới gần 29% về nguồn cung tín chỉ carbon.

Đáng chú ý, không chỉ nguồn cung mới giảm mà cơ cấu tín chỉ carbon cũng có sự dịch chuyển khi có sự gia tăng đáng kể tỷ trọng tín chỉ chất lượng cao. Riêng nửa đầu 2026, khoảng 27% lượng tín chỉ carbon được tổ chức Sylvera đánh giá từ mức BBB trở lên đang tạo ra trên 50% tổng giá trị thị trường carbon toàn cầu.

Theo Climate Focus, điều này thể hiện thị trường carbon đang bước vào giai đoạn thanh lọc khi tín chỉ chất lượng thấp dần bị loại bỏ, nhường chỗ cho tín chỉ carbon được tạo ra từ các dự án bền vững, mang nhiều giá trị cộng thêm và ít rủi ro rò rỉ ngược khí thải nhà kính ra môi trường.

Một tổ chức tư vấn độc lập về tín chỉ carbon nói với TheLEADER, trong bối cảnh này, nhà đầu tư quốc tế tỏ ra đặc biệt quan tâm đến tín chỉ carbon tại Việt Nam. Bởi lẽ, Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để cho ra đời tín chỉ carbon có giá trị cao.

Đầu tiên phải kể đến là hệ thống rừng với độ đa dạng sinh học thuộc nhóm cao trên thế giới, hưởng lợi từ khí hậu nhiệt đới gió mùa. Những năm qua, chính sách giao đất giao rừng tại một số địa phương đã trực tiếp đưa rừng vào tay người lâm dân, giúp việc giữ rừng và bảo vệ rừng được gắn trực tiếp với bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số.

Lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam cũng được dự báo có khả năng tạo ra lượng lớn tín chỉ carbon. Đáng chú ý, việc canh tác nông nghiệp bền vững đang được đẩy mạnh không chỉ áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến mà còn tận dụng nguồn tri thức bản địa như sử dụng thiên địch, canh tác theo mùa và theo điều kiện thời tiết để tối ưu hóa sản lượng, tối thiểu hóa vật tư.

Tiêu biểu trong đó là đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long, với mục tiêu chính là xây dựng thương hiệu lúa phát thải thấp, nâng cao sinh kế cho người dân, còn việc tạo và thương mại hóa tín chỉ carbon là mục tiêu đi kèm với nâng cao sinh kế.

Việt Nam nên làm gì?

Theo kịch bản phát triển thị trường carbon tại Việt Nam, từ nay đến năm 2028 là giai đoạn thí điểm và chuẩn bị, bao gồm việc phân bổ miễn phí hạn ngạch phát thải, thử nghiệm vận hành sàn giao dịch carbon và hoàn thiện khung pháp lý.

Từ năm 2029, thị trường carbon Việt Nam chính thức vận hành và bắt đầu kết nối với thị trường thế giới. Đáng chú ý, thời điểm này, có thể giai đoạn thanh lọc đã hoàn tất, thị trường carbon thế giới sẽ “ngự trị” bởi những tín chỉ carbon có giá trị cao.

Nông nghiệp Việt Nam cũng có nhiều tiềm năng tạo tín chỉ carbon giá trị cao. Ảnh: Hoàng Anh. 

Nông nghiệp Việt Nam cũng có nhiều tiềm năng tạo tín chỉ carbon giá trị cao. Ảnh: Hoàng Anh. 

Những dự án tạo tín chỉ carbon Việt Nam, như đã nói ở trên, có nhiều tiềm năng tạo ra tính bền vững ở cả 3 khía cạnh là kinh tế, môi trường và xã hội. Điều kiện cần đã có, điều kiện đủ để tham gia thị trường tín chỉ carbon giá trị cao là thiết lập bộ tiêu chí cho tín chỉ carbon đạt chuẩn quốc tế, đi kèm với cơ chế đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV) đảm bảo tính minh bạch.

Theo ông Kiều Tuấn Đạt, Viện trưởng Viện Khoa học lâm nghiệp Nam Bộ, các tiêu chuẩn về tín chỉ carbon cần được đơn giản hóa để người nông dân có thể dễ tiếp cận, đặc biệt là những hộ dân sở hữu diện tích rừng trồng nhỏ lẻ.

Tuy nhiên, đơn giản hóa không có nghĩa là làm qua loa. Ông Đạt cho rằng, phải có định hướng đúng đắn từ sớm, đặc biệt là việc khuyến khích bà con trồng cây gỗ lớn dài ngày thay vì trồng cây ngắn ngày làm giảm khả năng tạo và tích lũy tín chỉ carbon.

Trong khi đó, TS. Trần Thị Lành, Chủ tịch sáng lập Trung tâm Nghiên cứu sinh thái nhân văn vùng cao (CHESH), nhấn mạnh yêu cầu về đội ngũ cán bộ cấp địa phương có đủ trình độ và kiến thức về tín chỉ carbon để hỗ trợ người dân trong việc tạo và chứng nhận tín chỉ carbon.

Ở góc độ vĩ mô, bà Lành đề xuất việc xây dựng “bản đồ kinh tế carbon” cho toàn bộ tỉnh, thành phố trên cả nước, bao gồm những cơ sở nào gây phát thải khí nhà kính, những dự án nào đang giúp giảm khí thải.

Bản đồ ấy sẽ cung cấp số liệu rõ ràng về phát thải tại Việt Nam, chẳng hạn như địa phương làm công nghiệp nặng này đang phát thải bao nhiêu, hay một địa phương ít phát triển công nghiệp, còn dư tín chỉ carbon như thế nào.

Từ đó, ta có thể tính toán lượng carbon còn dư sau khi đóng góp vào cam kết quốc gia tự nguyện (NDC) cũng như có thể tập trung vào những địa phương, dự án có lợi thế về tín chỉ carbon để cung cấp sản phẩm chất lượng cho thị trường.

Hoàng Đông

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/thi-truong-tin-chi-carbon-buoc-vao-giai-doan-thanh-loc-viet-nam-nen-lam-gi-d47777.html