Thu hút FDI: Từ 'hút vốn' sang tạo năng lực cho nền kinh tế

Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động giá rẻ và khai thác nguồn lực đang bộc lộ giới hạn, chính sách thu hút FDI cần chuyển trọng tâm từ chạy theo quy mô vốn sang tạo năng lực về công nghệ, nhân lực, doanh nghiệp và giá trị gia tăng trong nước.

Tại bản Kiến nghị chính sách Quý III/2026, Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) đã dẫn đánh giá của một số chuyên gia cho rằng, các động lực tăng trưởng truyền thống như gia tăng vốn, sử dụng lao động với chi phí cạnh tranh, khai thác tài nguyên, thu hút FDI và phát triển các hoạt động gia công đã đóng góp quan trọng cho quá trình tăng trưởng của Việt Nam trong nhiều thập niên qua.

Tuy nhiên, những động lực này đang dần bộc lộ giới hạn. Tích lũy thêm vốn sẽ ngày càng kém hiệu quả nếu không đi cùng với nâng cao trình độ công nghệ, năng lực quản trị và chất lượng kỹ năng của người lao động. Lợi thế về lao động chi phí thấp cũng suy giảm khi dân số bước vào quá trình già hóa và tiền lương ngày càng tăng. Trong khi đó, việc tiếp tục mở rộng đầu tư dựa nhiều vào đất đai, năng lượng và tài nguyên đang tạo thêm sức ép lên môi trường. Đáng lưu ý, tốc độ tăng năng suất và mức đóng góp của các yếu tố chất lượng vào tăng trưởng vẫn chưa đủ vững chắc.

NEU nhận định, hạn chế cốt lõi của nền kinh tế không hẳn nằm ở việc Việt Nam thiếu nguồn lực, mà ở khả năng chuyển hóa nguồn lực thành kết quả và năng lực phát triển. Một dự án có thể được cấp vốn nhưng triển khai chậm; một chính sách có thể được ban hành nhưng phải đi qua nhiều tầng nấc phối hợp; một hoạt động nghiên cứu có thể tạo ra sản phẩm khoa học nhưng chưa kết nối được với thị trường; và một lực lượng lao động đông đảo vẫn có thể chưa đáp ứng đúng những kỹ năng mà doanh nghiệp cần. Những điểm nghẽn đó làm suy giảm “năng suất thể chế” và khiến nguồn lực được huy động chưa chuyển hóa tương xứng thành năng suất, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng.

Điều này cũng lý giải vì sao việc tiếp tục bổ sung vốn, nếu không đi cùng thay đổi về chất, có thể giúp mở rộng quy mô nền kinh tế nhưng chưa chắc tạo ra một nền tảng tăng trưởng tốt hơn. Thực tế cho thấy biên độ tăng trưởng của Việt Nam đang có xu hướng giảm dần sau khoảng 40 năm. Nếu giai đoạn 1991–2000, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 7,58%, thì giai đoạn 2001–2010 giảm còn 7,21%, giai đoạn 2011–2020 còn 6,58% và giai đoạn 2021–2025 chỉ còn 6,23%.

Theo GS. Ngô Thắng Lợi (NEU), diễn biến này cho thấy mô hình tăng trưởng thời gian qua ngày càng bộc lộ sự lạc hậu. Tăng trưởng vẫn phụ thuộc đáng kể vào vốn; mặc dù tốc độ tăng trưởng vốn đã giảm nhưng vẫn cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP. Trong khi đó, tốc độ tăng của TFP (năng suất nhân tố tổng hợp) thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP. Đóng góp của TFP vào tăng trưởng đã được cải thiện, nhưng vẫn thấp so với các nền kinh tế có trình độ phát triển cao.

Từ thực tế này, NEU đề xuất, việc thu hút FDI cần được đổi mới theo tiêu chí chất lượng. Theo đó, đối với các dự án chiến lược, ngay từ khâu lựa chọn và đàm phán cần xác định rõ kế hoạch phát triển nhà cung cấp trong nước, đào tạo kỹ sư và lao động kỹ thuật, đầu tư cho R&D, liên kết với viện nghiên cứu và trường đại học, đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, đồng thời tạo ra giá trị gia tăng đủ lớn trong nước. Như vậy, hiệu quả của một dự án FDI không chỉ được đo bằng tổng vốn đăng ký hay số vốn giải ngân, mà còn phải được đánh giá qua những năng lực mà dự án để lại cho nền kinh tế.

Cùng với đó, chính sách ưu đãi cũng cần chuyển từ cơ chế ưu đãi chủ yếu dựa trên cam kết ban đầu sang cơ chế gắn ưu đãi với kết quả thực hiện. Những ưu đãi bổ sung chỉ nên được giải ngân hoặc duy trì khi doanh nghiệp đạt được các kết quả đã cam kết và được xác nhận bằng những tiêu chí cụ thể, chẳng hạn về đào tạo nhân lực, phát triển nhà cung cấp trong nước, R&D, tiêu chuẩn môi trường hoặc giá trị gia tăng nội địa. Cách tiếp cận này vừa tạo động lực cho nhà đầu tư thực hiện đúng cam kết, vừa giúp Nhà nước hạn chế tình trạng ưu đãi được trao trước nhưng hiệu quả phát triển lại khó kiểm chứng.

Đối với yêu cầu chuyển giao công nghệ, cần có cách tiếp cận thực tế và phù hợp với các cam kết quốc tế cũng như khả năng đàm phán của Việt Nam. Thay vì đặt nặng các yêu cầu hành chính về chuyển giao công nghệ, có thể ưu tiên những cơ chế tạo động lực để các bên cùng có lợi, như đồng phát triển công nghệ, đào tạo nhân lực, nâng cao tiêu chuẩn kỹ thuật, tạo đơn hàng cho doanh nghiệp trong nước và thúc đẩy các hình thức liên doanh, hợp tác tự nguyện.

PV

Nguồn TCDN: https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/thu-hut-fdi-tu-hut-von-sang-tao-nang-luc-cho-nen-kinh-te-d69650.html