Thúc đẩy giảm phát thải xây dựng từ xi măng carbon thấp
Xi măng là vật liệu thiết yếu cho phát triển nhưng cũng là một trong những nguồn phát thải lớn, đặt ngành xi măng Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi công nghệ, giảm phát thải và góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuẩn bị thực hiện các mục tiêu giảm phát thải đối với ngành xi măng, sau khi công bố hạn ngạch phát thải giai đoạn 2025-2026 cho 51 cơ sở sản xuất.
Thách thức đặt ra không chỉ là cắt giảm lượng khí thải mà còn phải duy trì năng lực sản xuất để đáp ứng nhu cầu xây dựng ngày càng lớn.

Trước nhu cầu xây dựng lớn, Việt Nam buộc phải tìm công nghệ và vật liệu phát thải ít carbon hơn. Ảnh: Kiều Thoan Thu
Các chuyên gia cho rằng, giảm tỷ lệ clanhke thông qua xi măng đất sét nung (LC3) và thay thế một phần than bằng nhiên liệu từ chất thải là hai hướng đi có nhiều tiềm năng. Tuy nhiên, để những giải pháp này được áp dụng rộng rãi, Việt Nam cần giải quyết đồng thời các vấn đề về tiêu chuẩn kỹ thuật, nguồn nguyên liệu và thị trường.
Từ tháng 3, Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) đã khởi động dự án hỗ trợ ngành xi măng Việt Nam, tập trung vào công nghệ, tài chính và chính sách. Báo Hànộimới trao đổi với các chuyên gia trong nước và quốc tế về những giải pháp có thể giúp ngành xi măng Việt Nam giảm phát thải trong những năm tới.

Giáo sư Fernando Martirena, chuyên gia hàng đầu về vật liệu carbon thấp và công nghệ LC3. Ảnh: Kiều Thoan Thu
Giáo sư Fernando Martirena, chuyên gia về vật liệu carbon thấp và công nghệ LC3, đánh giá Việt Nam có nhiều điều kiện để chuyển sang xi măng phát thải thấp, nhờ hệ thống nhà máy quy mô lớn, đội ngũ kỹ thuật được đào tạo và nguồn đất sét phong phú.
“Việt Nam có thể tiếp tục tăng trưởng kinh tế nhưng cần tính đến môi trường. Với ngành xi măng, điều đó đồng nghĩa phải giảm phát thải carbon và LC3 là một trong những công nghệ có thể giúp thực hiện mục tiêu này,” Giáo sư Fernando Martirena nêu rõ.
Loại xi măng LC3 sử dụng đất sét nung và đá vôi để thay thế một phần clanhke - thành phần tạo ra lượng phát thải lớn trong quá trình sản xuất xi măng. Theo UNIDO, LC3 có thể giảm tới khoảng 40% lượng CO₂ so với xi măng Portland thông thường.
Bên cạnh giảm tỷ lệ clanhke, ngành xi măng có thể giảm phát thải bằng cách thay thế một phần than đá bằng nhiên liệu được sản xuất từ chất thải.

Tiến sĩ Kåre Helge Karstensen, chuyên gia từ Na Uy. Ảnh: Kiều Thoan Thu
Tiến sĩ Kåre Helge Karstensen, chuyên gia về môi trường và xử lý chất thải tại Tập đoàn Nghiên cứu Công nghiệp và Khoa học Na Uy (SINTEF), cho biết ngành xi măng Việt Nam sử dụng hơn 10 triệu tấn than mỗi năm, trong khi nhiên liệu thay thế mới chiếm khoảng 5%.
Theo ông, tỷ lệ này có thể tăng lên 10% hoặc cao hơn nếu có chính sách phù hợp. Tại Na Uy, nhiên liệu thay thế chiếm hơn 75%.
Tuy nhiên, nút thắt lớn nhất là xây dựng được nguồn cung nhiên liệu ổn định. Chất thải công nghiệp và nhựa không thể tái chế có thể được xử lý làm nhiên liệu cho lò xi măng, nhưng điều này đòi hỏi hệ thống thu gom, phân loại và xử lý đồng bộ.
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và đô thị lớn có lượng rác thải đáng kể, có thể cung cấp cho hoạt động đồng xử lý. Cùng với đó, cần có quy định rõ về tiêu chuẩn nguồn nguyên liệu này và cơ chế để doanh nghiệp xi măng tham gia.
Kinh nghiệm Na Uy cho thấy các khâu này cần được kết nối với nhau, thay vì để từng nhà máy tự tìm nguyên liệu. Khi nguồn nhiên liệu được cung cấp ổn định, doanh nghiệp sẽ có điều kiện đầu tư thiết bị và tăng tỷ lệ sử dụng.

Tiến sĩ Nguyễn Quang Cung, Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam. Ảnh: Kiều Thoan Thu
Tiến sĩ Nguyễn Quang Cung, Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam, cho rằng Việt Nam có nền tảng để áp dụng giải pháp giảm phát thải, từ nguồn nguyên liệu, dây chuyền sản xuất đến đội ngũ kỹ thuật.
Tuy nhiên, mỗi giải pháp cần được lựa chọn phù hợp với thực tế trong nước. Quy mô nhà máy, nguồn nguyên liệu và dây chuyền hiện có khác nhau, do đó không thể áp dụng máy móc kinh nghiệm từ quốc gia khác.
Quan trọng hơn, chuyển đổi công nghệ phải đi cùng hiệu quả kinh tế. Doanh nghiệp sẽ khó mạnh dạn đầu tư nếu chưa nhìn thấy nhu cầu rõ ràng từ thị trường.
Với LC3, cần có tiêu chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật để đưa vào công trình. Với nhiên liệu từ chất thải, cần bảo đảm nguồn cung và chất lượng phù hợp trước khi đưa vào lò nung.
Theo bà Anne Dekeukelaere, Giám đốc điều hành Trung tâm Xây dựng bền vững toàn cầu thuộc Trường Bách khoa Liên bang Lausanne (EPFL), Thụy Sĩ, công nghệ chỉ có thể đi vào cuộc sống khi được hỗ trợ bởi tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng và một thị trường đủ lớn.

Bà Anne Dekeukelaere, Giám đốc điều hành Trung tâm Xây dựng bền vững toàn cầu thuộc Trường Bách khoa Liên bang Lausanne (EPFL), Thụy Sĩ. Ảnh: Kiều Thoan Thu
“Việt Nam tiếp tục xây dựng để đáp ứng nhu cầu phát triển, nhưng cần thay đổi với xi măng và bê tông phát thải thấp hơn”, bà Anne Dekeukelaere cho biết.
Theo bà, trong bối cảnh nhu cầu xây dựng tại Việt Nam vẫn lớn, việc hạn chế xây dựng để giảm phát thải không phải là lựa chọn thực tế. Điều cần làm là chuyển sang sản xuất và sử dụng vật liệu phát thải thấp hơn.
Nhà nước có thể tạo nhu cầu ban đầu thông qua mua sắm công. Chẳng hạn, xi măng và bê tông phát thải thấp có thể được thí điểm tại các dự án nhà ở xã hội và từng bước mở rộng sang các công trình công.
Cách tiếp cận này có thể tạo ra thị trường ban đầu, giúp doanh nghiệp có cơ sở đầu tư vào công nghệ và mở rộng sản xuất.
Ngành xi măng Việt Nam: Quy mô lớn, phát thải lớn
Theo UNIDO, Việt Nam là nước sản xuất xi măng lớn thứ ba thế giới, với tổng công suất khoảng 122 triệu tấn/năm. Trong đó, nhiều dây chuyền được đầu tư từ hơn một thập niên trước.
Ngành xi măng hiện chiếm khoảng 16% tổng phát thải khí nhà kính của Việt Nam. Phần lớn CO₂ phát sinh trong quá trình nung clanhke ở nhiệt độ cao, bên cạnh lượng phát thải từ nhiên liệu sử dụng cho lò nung.
Theo Bộ Xây dựng, ngành này đang hướng tới giảm 40%-60% lượng phát thải so với hiện nay, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Đây là cam kết của Việt Nam nhằm cân bằng lượng khí thải nhà kính với lượng được hấp thụ hoặc loại bỏ khỏi khí quyển, hướng tới nền kinh tế phát triển bền vững.

