Thúc đẩy xe điện: Cần cú hích chính sách mới

Xe điện tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc, nhưng để bứt phá cần hoàn thiện pháp lý, hạ tầng sạc và tín dụng xanh, tạo động lực cho người dân, doanh nghiệp chuyển đổi.

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng và phát triển giao thông xanh, ngành công nghiệp xe điện đang đứng trước cơ hội bứt phá nhưng cũng đối mặt không ít thách thức về hạ tầng, công nghệ và hành lang pháp lý.

Ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương). Ảnh: BNEWS/TTXVN phát

Ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương). Ảnh: BNEWS/TTXVN phát

Bên lề tọa đàm Xe điện - Lời giải cho “bài toán” năng lượng và phát triển bền vững do Báo Công thương vừa tổ chức, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp - Bộ Công Thương xung quanh định hướng, chính sách và giải pháp thúc đẩy ngành xe điện phát triển bền vững tại Việt Nam.

Phóng viên: Thưa ông, trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển giao thông xanh, đặc biệt là sau thông báo kết luận của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại cuộc họp của Tổ Công tác đảm bảo an ninh năng lượng ngày 11/3/2026, Bộ Công Thương đã, đang định hướng như thế nào trong việc thúc đẩy sản xuất và sử dụng xe điện tại Việt Nam?

Ông Phạm Văn Quân: Theo quan điểm của Bộ Công Thương, xe điện không chỉ là một phương tiện giao thông mà là một ngành công nghiệp hoàn toàn mới. Vì vậy, cần có sự chuẩn bị đồng bộ từ hạ tầng, thể chế đến hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để ngành này có thể phát triển bền vững.

Thời gian qua, Bộ đã tập trung xây dựng hành lang pháp lý, đặc biệt là hệ thống tiêu chuẩn cho trạm sạc, thiết bị sạc và pin. Đến cuối năm 2025, chúng tôi đã phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng được 18 tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đến thiết bị trụ sạc, trạm sạc và pin sạc. Theo yêu cầu của Chính phủ, đến quý II/2026, hệ thống này cần được hoàn thiện toàn diện.

Tuy nhiên, thực tế triển khai trạm sạc vẫn gặp nhiều vướng mắc liên quan đến thủ tục đầu tư, điện lực và xây dựng. Vì vậy, Bộ đang phối hợp với các đơn vị liên quan để tháo gỡ, đồng thời đề xuất các chính sách ưu đãi nhằm thúc đẩy phát triển hạ tầng và khuyến khích người dân sử dụng xe điện.

Ngoài ra, Bộ cũng chú trọng phát triển công nghiệp hỗ trợ và đặc biệt là pin lưu trữ – yếu tố then chốt của xe điện. Việc phát triển pin không chỉ phục vụ phương tiện mà còn góp phần tích trữ năng lượng từ nguồn tái tạo, qua đó nâng cao an ninh năng lượng quốc gia.

Phóng viên: Một trong những vấn đề được quan tâm là tỷ lệ nội địa hóa của xe điện còn thấp. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Ông Phạm Văn Quân: Tôi cho rằng nhận định này cần nhìn nhận lại một cách đầy đủ hơn. Theo số liệu, đến năm 2025, tỷ lệ nội địa hóa của VinFast đạt khoảng 60% và có thể nâng lên 80% trong thời gian tới khi các nhà máy pin ở Hà Tĩnh đi vào hoạt động.

Trong khi đó, có thể thấy một thực tế là một số doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, dù đã hoạt động tại Việt Nam hơn 30 năm, nhưng tỷ lệ nội địa hóa vẫn chưa đạt mức cam kết 40%, thậm chí nhiều dòng xe mới chỉ đạt khoảng 10–15%. Điều này cho thấy doanh nghiệp trong nước đang có bước tiến rất đáng ghi nhận.

Đối với pin và động cơ – hai thành phần cốt lõi, Việt Nam đã từng bước làm chủ công nghệ. Tuy nhiên, tỷ lệ nội địa hóa còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chi phí sản xuất, quy mô thị trường và chiến lược nguồn cung của doanh nghiệp.

Về chính sách, Bộ Công Thương đã triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ. Nghị định số 111/2015/NĐ-CP về phát triển công nghiệp hỗ trợ đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 205/2025/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, nhiều nội dung đã bộc lộ sự lạc hậu, cần tiếp tục cập nhật, đặc biệt đối với các lĩnh vực mới như xe điện, pin lưu trữ và năng lượng tái tạo.

Đáng chú ý, các công nghệ liên quan đến năng lượng tái tạo và pin lưu trữ đã được Bộ Chính trị xác định là công nghệ chiến lược, cần ưu tiên phát triển trong giai đoạn tới. Trên cơ sở đó, các chính sách ưu đãi cũng đang được hoàn thiện theo hướng thúc đẩy hình thành và phát triển chuỗi cung ứng trong nước.

Một trong những tiêu chí đáng chú ý là các doanh nghiệp FDI muốn hưởng ưu đãi trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ phải có sự tham gia của ít nhất một doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng. Đồng thời, các sản phẩm được hưởng ưu đãi phải có hàm lượng khoa học – công nghệ nhất định, thay vì chỉ dừng ở lắp ráp đơn thuần.

Hiện nay, chính sách ưu đãi trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ được đánh giá là một trong những chính sách có mức hỗ trợ cao nhất đối với doanh nghiệp sản xuất. Đây là cơ hội quan trọng để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của ngành xe điện.

Hiện đã có khoảng 700 doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng của VinFast. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành hệ sinh thái công nghiệp trong nước.

Phóng viên: Dù có nhiều ưu đãi, sức mua xe điện vẫn chưa bứt phá mạnh. Theo ông, cần thêm những giải pháp gì để thúc đẩy thị trường?

Ông Phạm Văn Quân: Tôi xin chia sẻ thêm từ trải nghiệm cá nhân. Cách đây khoảng 20 năm, khi học về kỹ thuật môi trường tại Nhật Bản – thời điểm các dòng xe hybrid bắt đầu xuất hiện, tôi đã có một mong muốn cá nhân là nếu một ngày Việt Nam sản xuất được ô tô, tôi sẽ mua ngay. Và thực tế, mong muốn đó đã đến sớm hơn dự kiến. Tuy nhiên, việc chuyển đổi không chỉ là câu chuyện chi phí mà còn liên quan đến thói quen và nhận thức.

Quyết định lựa chọn xe điện của tôi không xuất phát từ ưu đãi thuế hay miễn lệ phí trước bạ, mà trước hết đến từ chuyên môn. Tôi hiểu về kỹ thuật, về hiệu suất vận hành cũng như độ bền của động cơ xe điện. Thứ hai, việc chuyển sang sử dụng xe điện giống như bước chuyển từ điện thoại “cục gạch” sang điện thoại thông minh – đòi hỏi thay đổi thói quen, hành vi sử dụng, nhưng khi đã quen thì rất thuận tiện.

Thời gian đầu, khi mới mua xe, ngay cả gia đình tôi cũng lo ngại, thậm chí không dám để xe trong nhà vì sợ cháy nổ. Từ trải nghiệm đó, tôi cho rằng công tác truyền thông là rất quan trọng để người dân hiểu đúng về xe điện.

Dàn xe thuần điện VF 8 của VinFast. Ảnh: Phú Vinh/BNEWS/TTXVN

Dàn xe thuần điện VF 8 của VinFast. Ảnh: Phú Vinh/BNEWS/TTXVN

Thời gian đầu, nhiều người lo ngại về độ an toàn, đặc biệt là pin. Thực tế, xe điện có độ bền cao, đặc biệt là pin với vòng đời khoảng 10–20 năm. Khi dung lượng pin giảm còn khoảng 70%, hoàn toàn có thể thay thế bằng pin mới, còn pin cũ tiếp tục được sử dụng cho mục đích lưu trữ năng lượng. Như vậy, vòng đời tổng thể của pin có thể kéo dài tới khoảng 40 năm. Vì vậy, một trong những yếu tố quan trọng là truyền thông để người dân hiểu đúng về xe điện. Tuy nhiên, ngay từ bây giờ cần có chính sách quy định rõ về tái chế pin, bởi ngành công nghiệp xe điện đang phát triển rất nhanh.

Cùng với đó, ngoài ưu đãi thuế phí, cần có các giải pháp mang tính đột phá hơn. Chẳng hạn, ưu tiên sử dụng xe điện trong khu vực công để tạo hiệu ứng lan tỏa. Đồng thời, tập trung vào các lĩnh vực tiêu thụ lớn như vận tải công cộng, xe buýt.

Một giải pháp rất quan trọng là phát triển tín dụng xanh. Nếu người dân được vay mua xe điện với lãi suất thấp hơn 2–3% so với thị trường, họ sẽ mạnh dạn chuyển đổi hơn.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đầu tư hạ tầng trạm sạc, đặc biệt tại khu dân cư, chung cư. Đây là yếu tố then chốt quyết định sự tiện lợi khi sử dụng xe điện.

Phóng viên: Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện vẫn chưa đồng bộ. Bộ Công Thương đang làm gì để hoàn thiện hành lang pháp lý cho lĩnh vực này?

Ông Phạm Văn Quân: Đúng là trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp đi nhanh hơn khung pháp lý. Tuy nhiên, thời gian qua Chính phủ đã chỉ đạo rất quyết liệt.

Nếu như cuối năm 2024 gần như chưa có hệ thống tiêu chuẩn, thì đến cuối năm 2025 đã xây dựng được 28 tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đến xe điện.

Theo chỉ đạo, trong năm 2026 phải hoàn thiện toàn bộ hành lang pháp lý cho trụ sạc, trạm sạc, bao gồm quy trình vận hành, đấu nối và an toàn kỹ thuật.

Khi hệ thống này hoàn thiện, sẽ tạo nền tảng quan trọng để phát triển hạ tầng sạc, đồng thời đảm bảo an toàn và tính cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.

Phóng viên: Với doanh nghiệp, ông có khuyến nghị gì để đồng hành hiệu quả hơn trong quá trình chuyển đổi xanh?

Ông Phạm Văn Quân: Doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm trong quá trình này. Bộ Công Thương đang triển khai nhiều chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, trong đó có cơ chế miễn thuế 4 năm, giảm thuế 9 năm tiếp theo nhằm hỗ trợ doanh nghiệp ổn định hoạt động.

Bên cạnh đó là các chương trình hỗ trợ kết nối thị trường, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực. Đối với doanh nghiệp trong nước, các chương trình công nghiệp hỗ trợ sẽ giúp nâng cao năng lực để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần chủ động đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, lợi thế giá rẻ sẽ không còn là yếu tố quyết định, mà phải là chất lượng và năng lực đổi mới.

Ngoài ra, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực. Đây là ngành mới, đòi hỏi kỹ năng và kiến thức chuyên sâu. Hệ thống giáo dục cần sớm cập nhật để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Phóng viên: Xin cảm ơn ông!

Phú Vinh/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/thuc-day-xe-dien-can-cu-hich-chinh-sach-moi/415185.html