Thực trạng khai thác khoáng sản ở Quảng Ngãi: Phía sau hàng tỷ đồng sai phạm là "khoản nợ" môi trường
Thanh tra 65 dự án khai thác khoáng sản trên địa bàn Kon Tum (cũ) phát hiện 41 dự án sai phạm nghĩa vụ tài chính với số tiền hơn 9,336 tỷ đồng.
Cùng với đó là hàng loạt tồn tại về ký quỹ phục hồi môi trường, đóng cửa mỏ, kiểm soát sản lượng, trạm cân, camera và quy hoạch. Những con số này cho thấy, để khai thác khoáng sản thực sự mang lại giá trị cho nền kinh tế, yếu tố môi trường phải được tính ngay từ đầu.

Kết luận thanh tra tại Quảng Ngãi có thể xem là một lời cảnh báo về yêu cầu quản trị nguồn lực tự nhiên trong giai đoạn phát triển mới.
41/65 dự án có sai phạm về tài chính
Theo Kết luận thanh tra số 154/KL-TTr ngày 30/6/2026 của Thanh tra tỉnh Quảng Ngãi, trong 65 dự án khai thác khoáng sản được kiểm tra trên địa bàn Kon Tum (cũ), có 41 dự án sai phạm về nghĩa vụ tài chính, chiếm khoảng 63%.
Qua đó, tổng số tiền sai phạm được xác định hơn 9,336 tỷ đồng. Trong đó, tiền thuế tài nguyên hơn 8,113 tỷ đồng, phí bảo vệ môi trường hơn 1,222 tỷ đồng và tiền cấp quyền khai thác khoáng sản hơn 1,785 triệu đồng.
Trong đó, những khoản tiền này gắn trực tiếp với việc doanh nghiệp khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, khi nghĩa vụ tài chính chưa được thực hiện đầy đủ, vấn đề không chỉ nằm ở số tiền ngân sách bị thiếu hụt, mà còn liên quan đến cách xã hội đang phân bổ lợi ích và chi phí từ việc khai thác tài nguyên.
Ở góc độ kinh tế môi trường, tài nguyên khoáng sản không phải là nguồn lực vô tận. Doanh nghiệp được hưởng lợi từ tài nguyên thì đồng thời phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính và trách nhiệm đối với môi trường nơi hoạt động khai thác diễn ra.

Sản lượng thực tế không được thống kê đầy đủ, cơ quan quản lý sẽ khó xác định doanh nghiệp đã khai thác bao nhiêu và nghĩa vụ tài chính tương ứng là bao nhiêu.
Đáng chú ý, đến ngày 30/6/2026, 7 doanh nghiệp còn nợ hơn 1,086 tỷ đồng tiền thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, tiền thuê đất và tiền sử dụng đất phi nông nghiệp.
Trong đó, thuế tài nguyên hơn 624 triệu đồng; phí bảo vệ môi trường hơn 443,8 triệu đồng; tiền thuê đất 15,6 triệu đồng và tiền sử dụng đất phi nông nghiệp hơn 2,59 triệu đồng.
Điều này đặt ra yêu cầu phải kiểm soát tốt hơn sản lượng khai thác thực tế. Bởi nếu không xác định được chính xác doanh nghiệp đã khai thác bao nhiêu, việc tính thuế, phí và tiền cấp quyền cũng khó bảo đảm đầy đủ.
Hơn 2,8 tỷ đồng ký quỹ phục hồi môi trường còn tồn đọng
Một con số khác đáng chú ý là đến ngày 31/12/2025, 44 chủ dự án khai thác khoáng sản còn nợ tiền ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường, với tổng số tiền hơn 2,819 tỷ đồng.
Đây là khoản tiền có ý nghĩa khác với thuế và phí. Nếu thuế tài nguyên phản ánh nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với việc sử dụng tài nguyên, thì tiền ký quỹ nhằm bảo đảm nguồn lực cho việc cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác.
Bên cạnh đó, việc 44 chủ dự án còn nợ tiền ký quỹ cho thấy trách nhiệm phục hồi môi trường vẫn còn một khoảng trống cần được xử lý.

Tại thời điểm, thanh tra cũng phát hiện 9 dự án chưa làm thủ tục đóng cửa mỏ khi giấy phép khai thác đã hết hạn hoặc không còn thời gian gia hạn.
Theo đó, doanh nghiệp không thực hiện hoặc không còn đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ này, chi phí khắc phục cuối cùng có thể phải trông chờ vào ngân sách nhà nước. Khi đó, cộng đồng sẽ phải gánh một phần chi phí phát sinh từ hoạt động khai thác mà doanh nghiệp là bên hưởng lợi trực tiếp.
Tại thời điểm, thanh tra cũng phát hiện 9 dự án chưa làm thủ tục đóng cửa mỏ khi giấy phép khai thác đã hết hạn hoặc không còn thời gian gia hạn.
Cùng với đó, có 11 dự án khai thác không đúng trình tự từng năm theo hồ sơ thiết kế mỏ được phê duyệt. Những sai phạm này cho thấy việc giám sát hoạt động khai thác cần được thực hiện xuyên suốt, thay vì chỉ tập trung vào thời điểm cấp phép.
Một trong những vấn đề đáng chú ý khác là 17 dự án chưa thực hiện đầy đủ việc thống kê, kiểm kê sản lượng khoáng sản khai thác thực tế theo từng năm và báo cáo kết quả khai thác theo quy định.
Con số này liên quan trực tiếp đến cả quản lý tài nguyên lẫn thu ngân sách.
Qua đó, sản lượng khai thác là cơ sở quan trọng để tính thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường và tiền cấp quyền khai thác. Nếu sản lượng thực tế không được thống kê đầy đủ, cơ quan quản lý sẽ khó xác định doanh nghiệp đã khai thác bao nhiêu và nghĩa vụ tài chính tương ứng là bao nhiêu.
Thanh tra cũng phát hiện 14 dự án lắp đặt trạm cân không đúng vị trí đưa khoáng sản nguyên khai ra khỏi khu vực khai thác; không lắp đặt camera giám sát tại các kho chứa để lưu trữ thông tin, số liệu theo quy định. Ngoài ra, 4 dự án có trạm cân và camera nhưng không lưu trữ số liệu các lần xe chở khoáng sản qua trạm cân theo yêu cầu.
Thanh tra cũng chỉ rõ 25 dự án chưa thực hiện việc lập, quản lý, lưu giữ bản đồ hiện trạng và bản vẽ mặt cắt hiện trạng khu vực được phép khai thác theo quy định.
Một trường hợp cụ thể được Thanh tra tỉnh Quảng Ngãi chỉ ra là 1,8081 ha diện tích dự án khai thác mỏ cát, sạn, sỏi tại thôn Kon Năng, xã Đăk Choong, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum (cũ) bị chồng lấn với khu vực lòng hồ đã được thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất và cho thuê đất để thực hiện dự án thủy điện Đăk Mi 1.
Bài toán sau thanh tra
Điểm đáng chú ý trong kết luận thanh tra là những hạn chế được chỉ ra ở cả phía doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Theo Thanh tra tỉnh Quảng Ngãi, công tác quản lý khoáng sản còn chịu sự chi phối của nhiều cơ quan, đơn vị và địa phương, dẫn đến chồng chéo chức năng, nhiệm vụ; phân công chưa thống nhất và phối hợp chưa đồng bộ.
Theo đó, để khắc phục những tồn tại này, không thể chỉ yêu cầu doanh nghiệp “siết chặt” chấp hành. Cơ quan quản lý cũng cần nâng cao năng lực giám sát, tăng phối hợp và xác định rõ trách nhiệm ở từng khâu.
Nhìn từ những con số thanh tra, vấn đề đặt ra không chỉ là hơn 9,336 tỷ đồng sai phạm về nghĩa vụ tài chính cần được truy thu, xử lý.
Đằng sau đó còn là hơn 2,819 tỷ đồng tiền ký quỹ phục hồi môi trường còn nợ, 9 dự án chưa đóng cửa mỏ, 17 dự án chưa kiểm kê đầy đủ sản lượng, 14 dự án có bất cập về trạm cân, camera, 4 dự án không lưu dữ liệu và 25 dự án thiếu bản đồ hiện trạng.
Một dự án chỉ được xem là thành công khi lợi ích kinh tế đi liền với việc thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ đóng góp ngân sách và hoàn trả hiện trạng sinh thái.
Theo đó, trước hết, cần coi nghĩa vụ tài chính và nghĩa vụ môi trường là hai mặt của cùng một hoạt động khai thác tài nguyên. Không thể tách lợi ích kinh tế khỏi chi phí môi trường.
Thứ hai, phải siết chặt kiểm soát sản lượng thực tế. Trạm cân, camera và dữ liệu khai thác cần được chuẩn hóa, kết nối và lưu trữ đầy đủ để tạo ra cơ sở dữ liệu có thể kiểm chứng.
Thứ ba, cần kiểm soát chặt ngay từ khâu cấp phép. Mỗi giấy phép phải được đặt trong tổng thể quy hoạch đất đai, nguồn nước, giao thông, thủy điện, lâm nghiệp và các quy hoạch liên quan để hạn chế tối đa tình trạng chồng lấn.
Thứ tư, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường phải được thu đúng, thu đủ và đúng thời hạn. Không nên để đến khi mỏ đóng cửa mới xác định nguồn lực phục hồi.
Thứ năm, phải xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong toàn bộ vòng đời dự án: từ quy hoạch, đấu giá, thăm dò, cấp phép, khai thác, giám sát sản lượng, thu nghĩa vụ tài chính đến đóng cửa mỏ và phục hồi môi trường.
Cuối cùng, cần thay đổi cách đánh giá hiệu quả khai thác khoáng sản. Một dự án không thể được coi là hiệu quả nếu tạo ra doanh thu và đóng góp ngân sách nhưng đồng thời để lại chi phí môi trường lớn cho cộng đồng.
Theo đó, kết luận thanh tra tại Quảng Ngãi có thể xem là một lời cảnh báo về yêu cầu quản trị nguồn lực tự nhiên trong giai đoạn phát triển mới. Khoáng sản có thể tạo động lực cho tăng trưởng, nhưng chỉ khi được khai thác đúng quy hoạch, đúng sản lượng, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính và gắn với trách nhiệm phục hồi môi trường.

