Tìm nguồn lực kinh tế, giữ cội nguồn nhân văn
Văn hóa từ lâu đã được ví như dòng phù sa âm thầm bồi đắp căn tính và bản lĩnh của một dân tộc qua bao thăng trầm lịch sử. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, dòng chảy ngỡ như chỉ thuộc về đời sống tinh thần ấy đang đứng trước một khúc quanh mang tính bước ngoặt, đó là việc chúng ta bước ra tiền tuyến của nền kinh tế với tư cách một nguồn lực nội sinh đầy xung lực. Yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải nhận diện, lượng hóa chuẩn xác đóng góp thực chất của văn hóa vào tăng trưởng quốc gia, hướng tới mục tiêu hiện thực hóa chỉ tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030.

Ảnh minh họa.
Thế nhưng, đằng sau những bảng cân đối tài chính và tham vọng tăng trưởng, một nỗi trăn trở lớn bắt đầu phát lộ là nguy cơ lệch hướng sang bài toán thương mại hóa đơn thuần, chạy theo lợi nhuận trước mắt mà vô tình làm xói mòn các giá trị tinh thần thiêng liêng.
Có thể thấy rõ, lượng hóa giá trị kinh tế không phải là hành vi hạ thấp sự thanh cao của văn hóa, mà là bước chuyển mình tất yếu của tư duy quản trị hiện đại. Đã qua rồi thời kỳ mặc định văn hóa chỉ là lĩnh vực thuần túy “tiêu ngân sách” hay chỉ biết sống dựa vào trợ cấp. Thực tiễn sinh động của đời sống đương đại minh chứng rằng, văn hóa trực tiếp tạo ra công ăn việc làm, mang lại thặng dư thương mại và kích hoạt hiệu ứng đòn bẩy lan tỏa mạnh mẽ sang du lịch, giao thông vận tải, ẩm thực cho tới dịch vụ lưu trú. Một tác phẩm điện ảnh chạm tới rung cảm phổ quát có thể đánh thức cả một vùng đất biên cương, hải đảo xa xôi thành điểm hẹn du lịch triệu đô; một lễ hội dân gian được tổ chức chuyên nghiệp, văn minh có thể vực dậy sinh kế cho hàng vạn hộ dân bản địa... Việc thiết lập một hệ thống thống kê đồng bộ sẽ đo lường minh bạch các tài sản trí tuệ, doanh thu bản quyền, giúp các cơ quan quản lý khắc phục dứt điểm căn bệnh đầu tư dàn trải, chắp vá hay trùng lặp dự án.
Dẫu vậy, giữa vòng xoáy khắc nghiệt của cơ chế thị trường, ranh giới nhân văn là vùng cấm địa tuyệt đối không thể đem ra mặc cả hay đánh đổi bằng bất cứ giá nào. Tinh thần chỉ đạo xuyên suốt của Đảng tại Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã vạch rõ yêu cầu: Song hành cùng việc thúc đẩy các chỉ số phát triển kinh tế, phải kiên quyết khắc phục triệt để khuynh hướng chỉ coi trọng lợi ích vật chất mà coi nhẹ các giá trị nhân văn và tiến bộ xã hội. Có những di sản ngàn đời, những làn điệu dân ca mộc mạc, những mái đình cổ kính hay hệ thống bảo tàng, thư viện sinh ra không phải để kiếm tìm lợi nhuận tức thời. Giá trị vĩnh cửu của chúng nằm ở thiên chức giáo dục nhân cách, hun đúc lòng tự hào dân tộc, thanh lọc tâm hồn và lưu giữ ký ức giống nòi cho các thế hệ mai sau. Nếu tư duy duy lợi lấn át, biến mọi không gian thiêng liêng thành cỗ máy sinh lời, chúng ta sẽ tự đẩy mình vào cái bẫy dung tục hóa, làm rỗng ruột những biểu tượng truyền thống và biến di sản cha ông thành những món đồ lưu niệm tầm thường.
Để dung hòa hai đòi hỏi tưởng chừng đối chọi gay gắt ấy, chìa khóa căn cơ nằm ở nghệ thuật phân tầng chính sách và sự đổi mới sâu sắc trong tư duy điều hành vĩ mô. Nhà nước cần vạch rõ đường biên rành mạch giữa một bên là nhóm sản phẩm công nghiệp văn hóa giàu tính cạnh tranh thị trường như điện ảnh, âm nhạc, thời trang giải trí với một bên là nhóm di sản ngàn năm, nghệ thuật truyền thống hàn lâm và không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng cần được bảo hộ, chu cấp trọn vẹn từ nguồn ngân sách công. Mọi công cụ đo lường thống kê chỉ đóng vai trò là “phương tiện” tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực, chứ con số tăng trưởng doanh thu không bao giờ được phép biến thành mục đích duy nhất.
Lợi ích kinh tế và giá trị nhân văn vốn không phải là hai bờ chiến tuyến đối đầu, mà là hai trụ cột song hành nâng đỡ tầm vóc quốc gia. Lượng hóa văn hóa bằng tư duy kinh tế sắc sảo để khơi thông và kiến tạo nguồn lực dồi dào, nhưng nhất thiết phải quản trị và bao bọc văn hóa bằng trái tim nhân văn sâu sắc để muôn đời gìn giữ trọn vẹn cội nguồn non sông...
