TỔNG THUẬT: Tọa đàm 'Luật Thủ đô (sửa đổi): Động lực thể chế cho Hà Nội bứt phá'
14h30 ngày 27/3, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức tọa đàm 'Luật Thủ đô (sửa đổi): Động lực thể chế cho Hà Nội bứt phá'.

Các vị khách mời tham dự Tọa đàm (từ trái sang): TS. KTS Phan Đăng Sơn – Chủ tịch Hội KTS Việt Nam; ông Trương Việt Dũng, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội; bà Nguyễn Phương Thủy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội; ông Nguyễn Quốc Hoàn, Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp; và MC, nhà báo Nguyễn Anh Đức - Ảnh: VGP/Thu Giang
Trong tiến trình phát triển đất nước, Thủ đô Hà Nội luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng - không chỉ là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia mà còn là trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo của cả nước.
Sau hơn 10 năm triển khai Luật Thủ đô, thực tiễn phát triển của Hà Nội cũng như yêu cầu mới của đất nước đang đặt ra đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp lý dành riêng cho Thủ đô.
Chính phủ vừa trình Quốc hội Dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) với nhiều cơ chế, chính sách đặc thù nhằm trao quyền mạnh hơn cho chính quyền thành phố Hà Nội, mở rộng phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, tạo không gian thể chế đủ rộng để Thủ đô phát huy vai trò đầu tàu, cực tăng trưởng của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước.
Dự thảo Luật được kỳ vọng không chỉ tháo gỡ những điểm nghẽn trong quản lý và phát triển đô thị mà còn tạo nền tảng pháp lý để Hà Nội thử nghiệm các cơ chế, chính sách mới, tiên phong trong quản trị đô thị hiện đại, chuyển đổi số, phát triển khoa học - công nghệ và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đây cũng chính là chủ đề của Tọa đàm hôm nay "Luật Thủ đô (sửa đổi): Động lực thể chế cho Hà Nội bứt phá".
Tọa đàm có sự tham dự của các khách mời là đại diện lãnh đạo TP. Hà Nội, các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan xây dựng pháp luật và chuyên gia về kiến trúc-quy hoạch, gồm:
- Bà Nguyễn Phương Thủy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội;
- Ông Trương Việt Dũng, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội;
- Ông Nguyễn Quốc Hoàn, Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp;
- TS. KTS Phan Đăng Sơn – Chủ tịch Hội KTS Việt Nam.
Mở đầu Tọa đàm, câu hỏi đầu tiên xin được dành cho đại diện Bộ Tư pháp. Thưa ông Nguyễn Quốc Hoàn, Chính phủ vừa trình Quốc hội dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) với nhiều cơ chế đặc thù, trong đó nhấn mạnh việc phân quyền mạnh mẽ và toàn diện hơn cho Hà Nội. Xin ông cho biết những mục tiêu lớn nhất của việc sửa đổi Luật Thủ đô lần này là gì và vì sao việc hoàn thiện thể chế cho Thủ đô lại trở nên cấp thiết trong giai đoạn hiện nay?

Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) Nguyễn Quốc Hoàn - Ảnh: VGP/Thu Giang
Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) Nguyễn Quốc Hoàn: Trong Dự thảo Luật Thủ đô có rất nhiều mục tiêu, trước hết là hoàn thiện những thiết chế, thể chế đặc thù, vượt trội cho Thủ đô để bảo đảm có một cơ chế ổn định lâu dài và để đáp ứng được mục tiêu là ổn định phục vụ cho mục tiêu 100 năm cùng với phù hợp vị trí hạt nhân là đô thị đặc biệt, trung tâm chính trị hành chính của cả nước.
Mục tiêu thứ hai là xác lập vai trò thiết kế chính sách cho Hà Nội, đổi mới tư duy từ việc Thủ đô không chỉ thực thi chính sách mà là chuyển giao quyền chủ động cho việc thiết kế chính sách ở tầm cao để giúp Hà Nội có đủ các cơ chế chính sách, cơ sở pháp lý và công cụ pháp lý để dẫn dắt, lan tỏa sự phát triển cho vùng Thủ đô cũng như cả nước.
Thứ ba, thực hiện chủ trương phân quyền triệt để, toàn diện, gắn với trách nhiệm tài chính của Hà Nội theo phương châm "địa phương quyết, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm". Đó là ba mục tiêu lớn.
Sự cần thiết của việc xây dựng Luật Thủ đô lần này là sự hội tụ của ba yếu tố cả về mặt chính trị, pháp lý cũng như thực tiễn. Ở góc độ chính trị, Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết số 02 ngày 17/3/2026 về xây dựng và phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới. Cùng với đó là chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư về việc tạo không gian pháp lý đủ rộng để Hà Nội phát triển.
Trên cơ sở đó, việc xây dựng Luật Thủ đô chính là kịp thời thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng cho sự phát triển của Hà Nội.
Ở khía cạnh thứ hai là về mặt thực tiễn, Hà Nội đã xác định một số điểm nghẽn rất quan trọng cần phải khắc phục kịp thời trong bối cảnh thay đổi rất nhanh. Cho nên cần phải có cơ chế pháp lý đủ mạnh để Hà Nội chủ động tháo gỡ các điểm nghẽn.
Thứ ba là về mặt pháp lý. Có thể nói sau khi Luật Thủ đô số 39 năm 2024 được thông qua thì rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật, các luật của Quốc hội đã được ban hành. Nhiều cơ chế chính sách được quy định trong Luật Thủ đô năm 2024 cũng đã được đưa vào các luật hiện hành. Nhiều cơ chế chính sách đặc thù của Thủ đô theo Luật 2024 đã trở thành những cơ chế chính sách được áp dụng chung trong phạm vi cả nước. Vì vậy Hà Nội cũng cần những cơ chế đặc thù để bảo đảm cơ sở pháp lý để thực thi, thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới.
Theo dự thảo Luật, có 192 thẩm quyền từ Trung ương được phân cấp cho chính quyền Hà Nội, trong đó 141 thẩm quyền chưa có quy định hiện hành (tức là phân quyền thêm), nhiều thẩm quyền được giao cho HĐND và UBND TP. Hà Nội. Bà Nguyễn Phương Thủy có thể phân tích rõ hơn: Việc phân quyền mạnh mẽ như vậy sẽ giúp Hà Nội chủ động hơn ra sao trong quản lý và phát triển đô thị? Đồng thời, cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình được thiết kế như thế nào để bảo đảm việc thực thi hiệu quả?

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Nguyễn Phương Thủy - Ảnh: VGP/Thu Giang
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Nguyễn Phương Thủy: Như ông Nguyễn Quốc Hoàn vừa nói, một trong những mục tiêu của Luật sửa đổi Luật Thủ đô lần này là đẩy mạnh hơn nữa việc phân cấp, phân quyền cho thành phố Hà Nội. Đây là một bước đột phá rất đáng chú ý trong dự thảo Luật lần này. Điều quan trọng không phải là số lượng bao nhiêu mà là phạm vi phân quyền. Chúng tôi đánh giá rằng các nội dung phân quyền trong dự thảo Luật lần này tương đối bao quát và đã tập trung vào những lĩnh vực rất then chốt liên quan đến quản trị đô thị.
Có thể thấy rõ là Hà Nội được trao quyền chủ động trong bốn lĩnh vực.
Thứ nhất là về tổ chức bộ máy và nhân sự. Thành phố có thể quyết định linh hoạt hơn về tổ chức các cơ quan thuộc chính quyền cấp thành phố cũng như các cơ sở; được quyền quy định, điều chỉnh các nội dung liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan; được linh hoạt hơn trong việc xác định biên chế, trong việc xác định vị trí việc làm cũng như có các cơ chế cán bộ phù hợp. Chính những điều này sẽ tạo điều kiện để Hà Nội có thể phát triển được đội ngũ công chức đủ năng lực, đủ động lực để làm việc.
Thứ hai là về thể chế và chính sách. Hà Nội không chỉ thực hiện theo các quy định chung của pháp luật mà còn được giao quyền để có thể ban hành các quy định, thậm chí khác hoặc chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên. Có thể tiến hành thí điểm một số cơ chế chính sách khác quy định của luật. Đây là một bước thay đổi rất lớn về mặt tư duy và tạo không gian đổi mới, sáng tạo để Hà Nội có thể phát triển một cách bứt phá.
Thứ ba là về quy hoạch và quản lý không gian đô thị. Trong dự thảo Luật cũng kế thừa các quy định của Nghị quyết số 258 đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp tháng 10 vừa qua. Theo đó, cho phép Hà Nội được xây dựng, quyết định và điều chỉnh các quy hoạch. Trong dự thảo Luật cũng có các quy định liên quan đến việc quản lý không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian trên cao. Đây sẽ là chìa khóa để xử lý các vấn đề nóng của đô thị hiện nay như giao thông hay quá tải về hạ tầng hoặc giãn dân đô thị.
Thứ tư là về tài chính và đầu tư. Dự thảo Luật đưa ra các cơ chế để Hà Nội được phép giữ lại một phần của phần tăng thu, chủ động quyết định các dự án lớn. Điều này sẽ giúp Hà Nội rút ngắn đáng kể các quy trình cũng như không bị phụ thuộc quá nhiều vào các tầng lớp trung gian ở cấp trên. Và sẽ giúp cho việc tăng tốc phát triển cũng như sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả.
Tôi nghĩ rằng điểm tích cực lớn nhất trong dự thảo Luật sửa đổi lần này đẩy mạnh phân quyền kèm theo là các quy định liên quan đến trách nhiệm. Đặc biệt là các quyết định mà Thành phố đưa ra sẽ gần dân hơn, sát dân hơn, đáp ứng kịp thời các nhu cầu phát triển của Thủ đô. Cùng với các quy định về phân quyền, trong dự thảo Luật cũng đã có các quy định liên quan đến việc kiểm soát quyền lực. Theo đó, chúng ta đã xây dựng các cơ chế kiểm soát đa tầng từ giám sát, kiểm tra của Quốc hội đến Chính phủ cũng như giám sát xã hội từ phía nhân dân. Cùng với đó là các quy định liên quan đến công khai, đến các yêu cầu về minh bạch quy trình thủ tục cũng như trách nhiệm giải trình của các cơ quan thực thi chính sách.
Ở góc độ của cơ quan thẩm tra, chúng tôi đánh giá rất cao góc tiếp cận như thế này. Tuy nhiên, chúng tôi cũng mong muốn dự thảo Luật sẽ đầu tư nhiều hơn nữa các nội dung này, để các cơ chế về kiểm tra, kiểm soát quyền lực, cơ chế giải trình... cụ thể hơn và tính khả thi cao hơn. Các quy định về phân quyền trong Luật cần phải đủ rõ và đủ cụ thể. Quá trình thực thi cũng phải nhấn mạnh yêu cầu về sáu rõ (rõ người, rõ việc, rõ quy trình trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả sản phẩm và rõ hiệu quả). Điều này sẽ giúp cho việc kiểm tra, giám sát và đánh giá dễ dàng hơn. Cũng cần tăng cường hơn nữa các cơ chế về công khai, minh bạch một cách thực chất, đề cao trách nhiệm giải trình không chỉ trong quá trình xây dựng, ban hành chính sách mà cả trong quá trình thực thi, triển khai chính sách, cơ chế đã được Luật quy định hoặc Thành phố sẽ quy định tiếp theo. Và có các cơ chế can thiệp kịp thời khi cần thiết để đảm bảo việc phân quyền này đi đúng hướng.
Tóm lại, trong dự thảo Luật Thủ đô lần này, nội dung phân quyền là một bước phát triển rất lớn. Nhưng để phát huy hiệu quả thì phân quyền phải đi kèm với kiểm soát quyền lực và bảo đảm việc thực thi phải rõ ràng. Làm tốt yêu cầu này sẽ tạo sự vững tin cho đại biểu Quốc hội khi bấm nút biểu quyết thông qua Luật cũng như tạo sự an tâm cho các cán bộ của chính Hà Nội khi tổ chức triển khai quyền lực mình được giao.
Thưa ông Trương Việt Dũng, việc sửa đổi Luật Thủ đô lần này được kỳ vọng sẽ tạo ra không gian thể chế rộng hơn cho Hà Nội phát triển. Vậy theo ông, những cơ chế mới nào trong dự thảo Luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển của Thủ đô, nhất là trong các lĩnh vực như đầu tư công, phát triển hạ tầng, quản trị đô thị, phát triển kinh tế và đổi mới sáng tạo? Xin ông cho biết, nguồn lực nào để Hà Nội có thể triển khai nhiệm vụ theo cơ chế chính sách của Luật Thủ đô sắp được ban hành?

Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Trương Việt Dũng: Luật Thủ đô lần này đã trao cho Hà Nội 5 công cụ quan trọng: Tài chính, thể chế, PPP (hợp tác công tư), nguồn lực và đặc biệt là dữ liệu để quyết định - Ảnh: VGP/Thu Giang
Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Trương Việt Dũng: Trước tiên, thay mặt lãnh đạo Thành phố, xin được trân trọng cảm ơn Ủy ban Pháp luật và Ủy ban Tư pháp của Quốc hội trong thời gian qua cũng đã hỗ trợ trong quá trình thẩm tra, và đặc biệt là Bộ Tư pháp cũng đã phối hợp với chúng tôi rất là chặt chẽ trong quá trình dự thảo Luật Thủ đô.
Đây là những nội dung mới, quy định mới và có tầm nhìn chiến lược, đặc biệt là gắn với quy hoạch tổng thể Thủ đô 100 năm. Mới đây, ngày 17/3 vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 02 về việc xây dựng và phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới. Chiều ngày 26/3, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội cũng đã tổ chức quán triệt toàn bộ Nghị quyết này.
Chúng tôi rất kỳ vọng và đặc biệt mong muốn cơ chế đột phá của Luật Thủ đô lần này. Luật Thủ đô đã qua nhiều thời kỳ, đây là lần thứ 3 sửa đổi. Với dự kiến khoảng 36 điều cũng như một số chương quy định, cá nhân tôi cũng như các đồng chí lãnh đạo Thành phố và bộ phận xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đánh giá: Luật Thủ đô lần này đã mở ra một công cụ hoặc một mô hình phát triển mới.
Xét dưới góc độ quản trị đô thị, đây là một quy trình tổ chức lại không gian đô thị và phát triển đô thị mới cho thành phố Hà Nội.
Có thể tóm gọn lại ở 3 nền tảng chính: Thứ nhất, về phân quyền và phân cấp:
Có khoảng 190 nhiệm vụ (hiện đang có điều chỉnh) đã được tăng quyền. Nhưng tăng quyền không phải là hưởng quyền, mà là giao cho Hà Nội quyền tự quyết và tự chịu trách nhiệm. Đây là thay đổi về quản trị đô thị lớn nhất. Thành phố Hà Nội có quyền tự làm và tự quyết các vấn đề trong khuôn khổ chung cũng như đặc thù của Hà Nội.
Thứ hai, nền tảng rất quan trọng là công cụ tài chính đô thị: Từ việc khai thác không gian tầm thấp, không gian tầm cao đến phát triển các mạng lưới giao thông TOD (phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng).
Tôi chỉ nêu một số liệu: Trước đây, theo Quy hoạch 1668 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch Thủ đô, chúng ta dự kiến khoảng 15 tuyến đường sắt, quy mô khoảng 600km với kinh phí khoảng 55 tỷ USD. Đến thời điểm này, trong quá trình tính toán dự kiến ở giai đoạn mới, sẽ rơi vào khoảng 19 tuyến đường sắt với tổng quy mô gần 900km và vốn khoảng 86 tỷ USD.
Để thực hiện điều này, chúng ta cần nguồn lực. Luật Thủ đô lần này cho phép chúng ta khai thác từ nguồn TOD. Hiện nay dự kiến trong quy hoạch có 5 TOD quốc gia với khoảng 100 ha mỗi TOD, khoảng 23 TOD cấp vùng khu vực (quy mô khoảng 50 ha) và 134 TOD còn lại. Như vậy tổng số TOD được đánh giá khoảng 5.000 ha. Giá trị khai thác TOD này chính là nguồn lực. Có nghĩa là không phải tăng tiền mà là giao cho Hà Nội được quyền huy động nguồn lực và quyết định việc này. Chúng ta không phải vay tiền để làm Metro, mà chính Metro tạo ra nguồn lực để phát triển cho lõi đô thị.
Thứ ba, thay đổi mô hình tăng trưởng: Lần đầu tiên Hà Nội được trao đồng bộ các thể chế phát triển. Thay vì trước đây chúng ta phát triển dựa trên vốn đầu tư vào lao động, nay chính thức xác lập chuyển sang khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt để đột phá mô hình phát triển tăng trưởng từ 10% trở lên.
Trở lại câu chuyện nguồn lực thực hiện, đây là bài toán nhiều năm từ khi thực thi hai Luật Thủ đô trước đây. Đặc biệt là bây giờ, năm 2026 chúng ta cần thực hiện khoảng 730 nghìn tỷ đồng (trong đó khoảng 550 nghìn tỷ đồng huy động nguồn xã hội). Giai đoạn 2026-2030 cần khoảng 5 triệu tỷ đồng (khoảng 2/3 là huy động nguồn xã hội). Giai đoạn 2026-2035, để hình thành khung hạ tầng theo quy hoạch Thủ đô, chúng ta cần khoảng 11 triệu tỷ đồng. Đến 2026-2045 cần 25 triệu tỷ đồng và đến 2065 cần 103 triệu tỷ đồng theo tính toán ban đầu.
Để làm gì? Để toàn bộ câu chuyện hạ tầng cũng như cấu trúc đa tầng đa lớp, cũng như đô thị xanh hướng tới Net Zero bằng 0. Luật Thủ đô lần này đã trao cho chúng tôi 5 công cụ quan trọng: Tài chính, thể chế, PPP (hợp tác công tư), nguồn lực và đặc biệt là dữ liệu để quyết định. Đây là 5 nền tảng mà chúng tôi nghĩ rằng sẽ là đòn bẩy để thực hiện được nguồn lực của Thủ đô Hà Nội trong thời gian tới.
Thưa ông Phan Đăng Sơn, Hà Nội đang kiến tạo một biểu tượng phát triển, một đầu tàu dẫn dắt và tạo hiệu ứng lan tỏa cho cả nước, trong đó quy hoạch phải đi trước một bước. Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) có thể coi là "chìa khóa" để tháo gỡ các điểm nghẽn, chuyển hóa những áp lực của đô thị thành động lực phát triển hay không?

TS. KTS Phan Đăng Sơn – Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Thu Giang
TS. KTS Phan Đăng Sơn – Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam: Trong lịch sử phát triển đô thị nước ta, đến nay chưa có đô thị nào có được một cơ hội về thể chế đủ lớn để tái cấu trúc trong dài hạn. Chúng tôi cho rằng dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) chính là cơ hội như vậy đối với Hà Nội – một đô thị đang bước vào giai đoạn phát triển rất mạnh mẽ, đồng thời đối mặt với các vấn đề mang tính hệ thống như quá tải hạ tầng, phân mảnh không gian, suy giảm môi trường và những giới hạn về thể chế quản trị.
Qua nghiên cứu dự thảo Luật cũng như các phiên bản trước đây, chúng tôi nhận thấy Luật Thủ đô (sửa đổi) lần này có thể coi là "chìa khóa vàng" để tháo gỡ các điểm nghẽn và áp lực tích tụ trong nhiều năm qua. Hà Nội đã và đang gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển hóa các áp lực này thành tiềm năng, thành động lực phát triển, đặc biệt trong tầm nhìn 100 năm.
Khi nghiên cứu Luật năm 2024 và dự thảo Luật năm 2026, có thể thấy rõ sự quyết liệt của Đảng, Chính phủ, Quốc hội và chính quyền Thủ đô trong mục tiêu tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, tạo điều kiện cho Hà Nội phát triển đột phá, vươn tới đô thị toàn cầu.
Luật năm 2024 về cơ bản đã mở ra "cánh cửa" cho các cơ chế đặc thù và phân cấp sâu, kỹ hơn cho Hà Nội. Trong bối cảnh chuyển sang mô hình chính quyền hai cấp, thực hiện Nghị quyết 258 của Quốc hội, cùng với các chỉ đạo của Tổng Bí thư và Bộ Chính trị, việc sửa đổi luật lần này đã khắc phục cơ bản những hạn chế – vốn là những điểm nghẽn lớn cản trở sự phát triển của Hà Nội trong thời gian qua.
Đặc biệt, dự thảo Luật năm 2026 có 7 nhóm nội dung sửa đổi chính so với Luật 2024, trong đó có nhiều điểm quan trọng liên quan đến Hội đồng nhân dân:
Thứ nhất, Hội đồng nhân dân được quyền lựa chọn phương án có lợi nhất khi có sự chồng chéo, "vênh" giữa các hệ thống pháp luật.
Thứ hai, được quyết định về số lượng đại biểu, chức danh và tổ chức bộ máy của chính quyền cấp dưới.
Thứ ba, được tăng mức xử phạt đối với các vi phạm (không quá 2 lần), bảo đảm tính răn đe.
Ngoài ra, Hội đồng nhân dân Thành phố được quyết định các mức thu dịch vụ thiết yếu (như điện, nước…) theo từng đối tượng cụ thể, khắc phục tình trạng quy định chung chung, khó thực hiện trước đây.
Một điểm rất quan trọng khác là quy định miễn trách nhiệm pháp lý đối với người thực thi công vụ đúng quy trình, không vụ lợi nhưng kết quả chưa đạt như kỳ vọng. Trước đây, đây là rào cản tâm lý lớn; còn nay, nếu làm việc công tâm, sáng tạo mà kết quả chưa phù hợp thì vẫn được xem xét miễn trách nhiệm.
Luật cũng mở ra hướng phát triển mô hình đô thị mới – đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm – thông qua việc bổ sung mô hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cho Thủ đô (dù vẫn phải trình Quốc hội). Đây có thể là cơ hội hình thành các cực tăng trưởng thực chất. Trước đây, mô hình đô thị trung tâm – vệ tinh chưa đạt hiệu quả; nhưng với cách tiếp cận mới này, các cực tăng trưởng có điều kiện phát triển mạnh hơn.
Bên cạnh đó, cơ chế đặc thù đi kèm yêu cầu giải trình, công khai, bảo đảm minh bạch trước nhân dân và các cơ quan liên quan.
Đáng chú ý, quy hoạch Thủ đô hiện nay được tích hợp giữa hai hệ thống: Quy hoạch tỉnh theo Luật Quy hoạch và quy hoạch chung đô thị theo Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn. Hà Nội là địa phương tiên phong trong việc tích hợp này. Việc tích hợp giúp tránh tình trạng "vênh" giữa các quy hoạch – vốn là vấn đề phổ biến ở nhiều địa phương – từ đó tạo ra một mục tiêu và lộ trình phát triển thống nhất.
Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả, cần vượt qua một số giới hạn cốt lõi:
Phân quyền phải thực chất, tránh hình thức. Quy hoạch phải có tầm nhìn dài hạn, mang tính chiến lược. Sử dụng đất đai phải hiệu quả, coi đây là tiêu chí đặc biệt quan trọng. Nâng cao năng lực quản trị đô thị.
Thực tế cho thấy, các vấn đề như ùn tắc, ngập úng, ô nhiễm… thường là hệ quả của hạn chế thể chế, chứ không phải nguyên nhân gốc rễ. Tại Hà Nội, những tồn tại như phân quyền hạn chế, cơ chế "xin – cho", quy hoạch thiếu tích hợp, mô hình tăng trưởng phụ thuộc vào đất đai, hay năng lực quản trị chưa theo kịp… đều đã được nhận diện và đặt ra yêu cầu xử lý trong Luật Thủ đô (sửa đổi).
Một điểm đáng chú ý nữa là Hà Nội được trao quyền lập và phê duyệt quy hoạch tổng thể (không bao gồm quy hoạch di sản). Đây là một bước tiến lớn, dù yêu cầu chuyên môn rất cao. Thành phố vẫn thực hiện quy trình nghiêm túc, lấy ý kiến rộng rãi từ các bộ, ngành và chuyên gia trong, ngoài nước.
Cùng với đó, mô hình phát triển đô thị theo định hướng TOD được xác định là một hướng đi tiến bộ, có thể tạo ra "lối thoát" quan trọng cho Hà Nội. Thành phố cũng được phép thí điểm các chính sách mới và xúc tiến thành lập các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, gắn với các cực tăng trưởng.
Về văn hóa, theo tinh thần Nghị quyết 80 của Đảng, Hà Nội xác định văn hóa là nền tảng, là trụ cột phát triển. Quan điểm mới là "kích hoạt giá trị văn hóa, biến di sản thành tài sản", đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế.
Tuy vậy, cần đặc biệt lưu ý một số rủi ro:
Phân quyền không triệt để sẽ tiếp tục gây ách tắc. Phát triển không gian thiếu điều phối tổng thể sẽ dẫn đến manh mún. Nguy cơ lệ thuộc vào bất động sản cần được kiểm soát chặt chẽ, nhất là khi quỹ đất ngày càng hạn hẹp.
Bên cạnh đó, cần chú trọng nuôi dưỡng tài chính đô thị theo hướng kinh tế tuần hoàn, chủ động nguồn lực. Ví dụ, công nghiệp văn hóa không chỉ dừng ở bảo tồn mà phải đóng góp vào tăng trưởng, trước mắt 5–7%, tiến tới 10–15% và đến năm 2060 đạt khoảng 20% GDP.
Có ý kiến lo ngại việc quy hoạch được phê duyệt trước khi luật ban hành, nhưng theo chúng tôi, điều này không phải vấn đề. Bởi quy hoạch đã được xây dựng trên cơ sở định hướng của dự thảo luật và các nghị quyết liên quan.
Tổng thể, Luật Thủ đô (sửa đổi) được ban hành vào thời điểm rất kịp thời, hứa hẹn tạo đột phá cho Hà Nội, hướng tới trở thành thành phố toàn cầu như kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Xin ông Trương Việt Dũng cho biết thêm ý kiến của ông đối với việc trao quyền cho TP. Hà Nội thí điểm cơ chế chính sách mới, thậm chí khác với một số quy định hiện nay, điều này có ý nghĩa như thế nào trong việc có thể có những ý tưởng đột phá về KHCN đổi mới sáng tạo đối với Thành phố?
Ông Trương Việt Dũng: Quay ngược thời gian một chút đến thời điểm cuối năm 2024, Hà Nội đã chủ động triển khai Nghị quyết 57. Thời điểm đó chúng tôi sử dụng dữ liệu và AI là công cụ hỗ trợ.
Từ cuối năm 2025, đặc biệt là đầu năm 2026, chúng tôi đã ban hành 1 kế hoạch của Ban Chỉ đạo để thực hiện Nghị quyết 57, với 20 mục tiêu và 30 dự án, đề án lớn. Trong đó chúng tôi xác định 10 khâu đột phá và nhiều nội dung; tiên phong về việc xây dựng thể chế. Đơn cử như quỹ đầu tư mạo hiểm, TP. Hà Nội là địa phương đầu tiên cả nước đầu tư 600 tỷ để tham gia góp vốn cùng các đối tác thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm. Chúng tôi cũng là địa phương đầu tiên của cả nước đầu tư thành lập công ty và mạng lưới hệ thống công ty cổ phần đổi mới sáng tạo để kết nối các startup.
Từ cuối năm 2025 đến đầu năm 2026, TP. Hà Nội đã xác định phải vận hành trên nền tảng số, có sự hỗ trợ của AI. AI không chỉ là công cụ hỗ trợ mà AI còn là lõi của hệ thống quản trị, nhất là sau khi chúng ta có Luật AI. AI không thay thế cán bộ công chức của Hà Nội nhưng AI có thể giúp năng suất lao động.
Một báo cáo thẩm tra trước đây, nếu một cán bộ bình thường mất nửa buổi làm được 2 báo cáo nhưng hiện nay có thể làm 6, 7 hồ sơ, cho thấy hiệu quả trong quá trình triển khai.
Luật Thủ đô có những điểm rất đáng mừng khi trao cho Thủ đô từ thiết kế chính quyền số, công nghệ số; thiết kế mô hình đổi mới sáng tạo, đến trao quyền cho Hà Nội chia sẻ dữ liệu cũng như vấn đề về quản trị, phát triển công nghệ… Hà Nội có cơ hội rất lớn trong việc bứt phá tăng trưởng 2 con số.
Hà Nội đã chi từ nguồn ngân sách để đầu tư cho phát triển KHCN, chuyển đổi số, trong đó tập trung đầu tư cho nguồn nhân lực. Mới đây Hà Nội đã mời một trường Đại học ở quốc gia hàng đầu thế giới dự kiến sẽ mở Đại học tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc.
Chúng tôi xác định Hà Nội là địa phương tiên phong dẫn dắt trong phát triển. Tôi xin khẳng định và cam kết lại, với những năng lực và thể chế, Hà Nội sẽ triển khai một cách bài bản nhất. Khi mô hình này thành công, chúng tôi sẽ đóng gói bàn giao để Trung ương nhân rộng, kết nối để cùng phát triển.
Một điểm đáng chú ý của dự thảo Luật là trao quyền cho Hà Nội thí điểm các cơ chế, chính sách mới, thậm chí khác với một số quy định hiện hành trong hệ thống pháp luật. Xin bà Nguyễn Phương Thủy cho biết ý nghĩa của cơ chế thí điểm chính sách này đối với việc đổi mới quản trị đô thị?

Bà Nguyễn Phương Thủy trao đổi ý kiến tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Thu Giang
Bà Nguyễn Phương Thủy: Tôi cho rằng đây là một điểm rất tiến bộ trong lần sửa đổi Luật lần này, thể hiện tư duy rất mới trong xây dựng và hoàn thiện thể chế. Về bản chất, đây là một cách tiếp cận rất hiện đại trong việc xây dựng chính sách, cho phép thử nghiệm giải pháp một cách có kiểm soát để có thể đánh giá về mặt thực tiễn nhằm rút kinh nghiệm rồi tiến hành hoàn thiện dần dần, thay vì phải chờ ban hành đầy đủ các pháp luật và thực hiện đồng loạt luôn.
Hiện tại, chúng ta cũng đã có một số nghị quyết của Quốc hội cho phép thí điểm các cơ chế, chính sách đối với một số địa phương trong một số lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên những nghị quyết này phải do Quốc hội ban hành. Do đó, thời gian ban hành cũng sẽ kéo dài hơn, bởi vì phải qua rất nhiều khâu, thủ tục khác nhau. Quan trọng nhất là khi triển khai, nếu thấy có những vấn đề cần phải điều chỉnh thì sẽ rất phức tạp bởi vì phải báo cáo lại Quốc hội theo trình tự để sửa đổi các nghị quyết thí điểm đã ban hành. Điều này khiến cho các chính sách đôi khi không bảo đảm tính linh hoạt và không đáp ứng kịp thời những yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt là thực tiễn lại đang biến đổi rất mạnh như thời gian vừa qua.
Với thực tế của một đô thị như Hà Nội, luôn đối mặt với những vấn đề rất mới từ kinh tế tuần hoàn, kinh tế số, giao thông thông minh hay quản trị đô thị theo phương thức tiên tiến, hiện đại…, chúng ta chưa có thực tiễn. Nhưng nếu cứ áp dụng một cách cứng nhắc việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật như từ trước tới nay chúng ta làm thì sẽ rất chậm và không theo kịp với thực tiễn; đồng thời sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội phát triển.
Cơ chế mới trong dự thảo Luật là trao quyền chủ động hơn cho Hà Nội trong việc tự quyết định những cơ chế, chính sách mang tính thí điểm, khác với quy định của Luật hoặc là chưa được pháp luật quy định. Điều này sẽ rút ngắn thời gian để cho chính sách có thể đi vào thực tiễn và cho phép điều chỉnh kịp thời trong quá trình thực hiện, để nó gần với các yêu cầu phát triển, gần với thực tiễn diễn ra nhanh chóng và khó lường như thời gian vừa qua.
Ý nghĩa cao nhất của việc này là tạo ra một không gian cho việc kiến tạo phát triển. Ở đây là kiến tạo về mặt thể chế. Thành phố được chủ động thử nghiệm các mô hình kinh tế mới, mô hình quản trị mới trong phạm vi, không gian, thời gian được kiểm soát và nếu có hiệu quả thì có thể nhân rộng. Nếu có những vấn đề chưa thực sự phù hợp thì có thể điều chỉnh. Và nếu có rủi ro, chúng ta cũng có thể hạn chế được, thay vì áp dụng trên diện rộng. Từ đó sẽ giảm những chi phí cho việc thử và sai. Đây là quá trình mà chúng ta bắt buộc phải trải qua trong quá trình phát triển.
Với cách tiếp cận như thế này, chúng ta hoàn toàn có thể hy vọng Hà Nội sẽ trở thành hình mẫu về thể chế cho cả nước, bởi vì:
Thứ nhất, Hà Nội là một trung tâm đầu não về chính trị, trung tâm hàng đầu của cả nước về kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ. Ở đây là chỗ có rất nhiều thực tiễn sinh động.
Thứ hai, Thành ủy, chính quyền cũng như các cơ quan tổ chức ở Hà Nội luôn thể hiện tinh thần đổi mới, sáng tạo, kiến tạo phát triển. Như Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Hà Nội Trương Việt Dũng vừa nói: Rất nhiều ý tưởng mới, rất nhiều tư tưởng mới nhưng chưa có đất để triển khai. Thì đây chính là cơ chế để tạo không gian cho Hà Nội thử nghiệm những cơ chế, chính sách mới. Và Hà Nội cũng có một đội ngũ cán bộ công chức quản lý, tham mưu có năng lực ngày càng được tăng cường và cũng chuyên nghiệp so với các địa phương khác.
Một mặt rất quan trọng nữa là Hà Nội là Thủ đô nên rất gần các cơ quan Trung ương. Do đó cũng đồng thời chịu sự giám sát thường xuyên của các cơ quan Trung ương. Và đây cũng là nơi được người dân, dư luận xã hội hết sức quan tâm, theo dõi sát sao, thường xuyên. Đây chính là những điều kiện rất quan trọng cho việc thí điểm các cơ chế, chính sách được triển khai một cách bài bản, có trách nhiệm và có kiểm soát.
Tuy nhiên, để cơ chế này phát huy hiệu quả, tôi cho rằng trong dự thảo Luật cần phải thiết kế các cơ chế để kiểm soát quá trình này đầy đủ và chặt chẽ hơn. Cần xác định rõ, các đề án thực hiện thí điểm phải rõ về phạm vi, lĩnh vực thí điểm, phải có tiêu chí về đánh giá kết quả thí điểm, phải có cơ chế kiểm soát, đánh giá, theo dõi kết quả cũng như phản hồi lại tác động đối với các chính sách nói chung, phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung pháp luật. Và phải bảo đảm tính công khai, minh bạch cũng như trách nhiệm giải trình như tôi đã đề cập ở phần đầu. Cơ chế thí điểm cũng phải có những cách thức để nếu có vấn đề phát sinh thì các cơ quan Trung ương có thể can thiệp để hạn chế rủi ro hoặc những vấn đề không mong muốn.
Tóm lại, nếu được thiết kế và thực hiện hiệu quả, cơ chế thí điểm này không chỉ giúp Hà Nội phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, mà còn là cơ sở thực tiễn, là nguồn tham khảo quan trọng giúp Quốc hội, giúp các cơ quan ở Trung ương tiếp tục hoàn thiện các chính sách pháp luật áp dụng trong phạm vi cả nước nói chung.
Dự thảo Luật cũng dành nhiều nội dung cho cơ chế thu hút và trọng dụng nhân tài, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho Thủ đô. Theo ông Nguyễn Quốc Hoàn, những chính sách này sẽ giúp Hà Nội thu hút các chuyên gia, nhà khoa học, nhân lực công nghệ cao như thế nào để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới?

Ông Nguyễn Quốc Hoàn: Dự thảo Luật Thủ đô đã có cách tiếp cận mới, toàn diện và hệ thống để thu hút, trọng dụng nhân tài, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho Hà Nội - Ảnh: VGP/Thu Giang
Ông Nguyễn Quốc Hoàn: Có thể nói dự thảo Luật Thủ đô sửa đổi lần này đã có những kiến tạo rất lớn để Hà Nội có thể thu hút được các chuyên gia, nhà khoa học và nhân lực chất lượng cao. Khi Luật Thủ đô được triển khai thực chất, có hiệu quả đối thì Hà Nội có thể trở thành một "thỏi nam châm" thu hút các chuyên gia, các nhà khoa học.
Dự thảo Luật Thủ đô đã có cách tiếp cận mới, toàn diện và hệ thống để thu hút, trọng dụng nhân tài, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho Hà Nội. Điểm đáng chú ý là giao quyền, trao quyền cho Hà Nội, cụ thể là Hội đồng nhân dân Thành phố chủ động quyết định các chính sách phù hợp với yêu cầu thực tiễn để thu hút các chuyên gia. Trong đó có những nguyên tắc, ví dụ như người trực tiếp sử dụng nhân lực có quyền tuyển dụng và đánh giá, đặc biệt đối với các đơn vị sự nghiệp ở khu vực công. Đấy là một trong những điểm mà chúng tôi cho rằng đã tạo ra cơ chế để Hà Nội có thể thực hiện được việc thu hút các chuyên gia và các nhà khoa học.
Một điểm nữa là chính sách để thu hút các chuyên gia, các nhà khoa học có thể được thiết kế trong Luật Thủ đô, có những chính sách có thể triển khai ngay, bao trùm từ thu nhập, tiền lương, tiền thưởng, các chế độ ưu đãi liên quan đến thuế thu nhập cá nhân. Đấy là những chính sách được thiết kế trong Luật Thủ đô để tạo cơ hội cho Hà Nội có đủ nguồn lực cũng như chuẩn bị nguồn lực để thực thi chính sách này.
Và một điểm mới nữa quan trọng trong các quy định của dự thảo là không tách rời từng chính sách đơn lẻ mà thiết kế theo hướng liên kết chặt chẽ giữa môi trường làm việc, cơ hội phát triển, chế độ đãi ngộ đối với các nhóm chuyên gia, các nhà khoa học. Từ việc phát triển các khu công nghệ cao, đào tạo, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo đến các chính sách ưu đãi thu hút đầu tư và chính sách riêng cho nhân tài ở các khu vực hoặc trong các lĩnh vực đó, tất cả cùng hình thành một hệ sinh thái đồng bộ để thu hút và giữ chân các chuyên gia, nhà khoa học cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đổi mới mô hình quản trị dựa trên dữ liệu công nghệ số và trí tuệ nhân tạo. Hiện nay đối với TP. Hà Nội việc có thể áp dụng những bài học, kinh nghiệm quốc tế tham khảo được từ những quốc gia phát triển đối với việc xây dựng mô hình quản trị dựa trên dữ liệu công nghệ số hiện đại đã được triển khai như thế nào? Hà Nội đang chuẩn bị những điều kiện gì để triển khai mô hình chính quyền số, đô thị thông minh phục vụ người dân? Luật Thủ đô (sửa đổi) sắp tới được ban hành sẽ tạo ra hành lang pháp lý đột phá ra sao cho quá trình này?

Ông Trương Việt Dũng cho biết Hà Nội đặt mục tiêu khoảng 100 bệnh viện trên địa bàn phải kết nối đồng bộ trên dữ liệu - Ảnh: VGP/Thu Giang
Ông Trương Việt Dũng: Thời gian vừa qua, Hà Nội đã triển khai đồng bộ 2 nội dung: Xây dựng đô thị thông minh và triển khai các nội dung theo Nghị quyết 57, trong đó then chốt là phải có dữ liệu, dữ liệu phải "đúng, đủ, sạch, sống, và thống nhất dùng chung".
Muốn xây dựng dữ liệu thì trước hết phải có kho dữ liệu. Vừa rồi Hà Nội tập trung xây dựng Lakehouse và Data Lakehouse để tiến tới toàn bộ dữ liệu được đổ về kho dữ liệu dùng chung. phân tầng, phân lớp.
Ví dụ trước đây các bệnh viện ở Hà Nội dùng các phần mềm không được đồng bộ nhưng đến hiện nay, đã kết nối được 42 bệnh viện của Hà Nội, vừa rồi có 2 bệnh viện của Trung ương đã tham gia. Chúng tôi đặt mục tiêu 115 bệnh viện trên địa bàn TP. Hà Nội (bệnh viện Trung ương trên địa bàn, bệnh viện tư nhân, bệnh viện bộ ngành…) phải kết nối đồng bộ chia sẻ dữ liệu. Điều này có nghĩa là người dân sẽ được phục vụ một cách tốt nhất. Ví dụ người dân chẩn đoán hình ảnh tại một bệnh viện và sau này dùng lại dữ liệu hình ảnh đó để tránh tình trạng trước đây, dữ liệu không liên thông chúng ta rất vất vả. Sau khi xây dựng dữ liệu, chúng tôi phải xây dựng hệ thống chia sẻ dữ liệu và ứng dụng để phân tích dữ liệu. Sau này, quan trọng hơn là dữ liệu sẽ tạo ra nguồn lực kinh tế.
Hà Nội sẽ tập trung phát triển kinh tế dữ liệu. Đây là lĩnh vực chúng tôi lựa chọn trong thời gian tới và tăng trưởng từ 10% trở lên cũng nằm ở đây.
Vừa rồi, đúng dịp kỷ niệm thành lập Đảng, chúng tôi đã khánh thành chợ chuyển đổi số, tất cả các mặt hàng chúng tôi chào trên chợ và mua bán các sản phẩm công nghệ. Và chúng tôi cũng khánh thành sàn giao dịch công nghệ, hiện nay đang triển khai vận hành theo mô hình thị trường.
Đối với đô thị thông minh cũng đã nghiên cứu rất nhiều mô hình của các nước như Mỹ hay Hàn Quốc. Chúng tôi cũng trực tiếp đi các nước để tham gia các chương trình học tập một số mô hình để áp dụng.
Đối với đô thị thông minh cũng đã nghiên cứu rất nhiều mô hình của các nước như Mỹ hay Hàn Quốc. Chúng tôi cũng trực tiếp đi các nước để tham gia các chương trình học tập một số mô hình để áp dụng.
Sự tương thích tuyệt đối của kiềng ba chân gồm Nghị quyết số 02-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về "Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới", Luật Thủ đô và Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm được cho là bệ phóng để cụ thể hóa các định hướng phát triển Thủ đô. Vì sao bộ ba này sẽ tạo bệ phóng đưa Thủ đô Hà Nội phát triển đột phá, thưa ông Phan Đăng Sơn?

Ông Phan Đăng Sơn: Hệ thống thống nhất từ định hướng (Nghị quyết), nền tảng pháp lý (Luật) đến công cụ triển khai (Quy hoạch) là cơ hội rất quý giá để Hà Nội thực sự "cất cánh" trong tương lai, phát triển bền vững và đạt được những mục tiêu đã đề ra - Ảnh: VGP/Thu Giang
Ông Phan Đăng Sơn: Khi nghiên cứu ba nội dung này, chúng tôi nhận thấy có sự tương thích rất cao. Tuy nhiên, nếu nói là tương thích tuyệt đối như một số ý kiến thì chúng tôi chưa dám khẳng định. Dù vậy, có thể khẳng định đây là một "bệ phóng" chiến lược hiếm có. Có lẽ trên thế giới không nhiều thành phố có được cơ hội và điều kiện như vậy, nhất là trong bối cảnh rất kịp thời, đúng lúc cho một bước chuyển mang tính đột phá với tầm nhìn 100 năm.
Điểm đặc biệt là việc tích hợp hai quy hoạch thành một, qua đó mở ra dư địa rất lớn cho Hà Nội phát triển lên tầm cao mới, một đại đô thị Hà Nội, mà nhiều chuyên gia gọi là "siêu đô thị thế hệ mới".
Có thể hình dung cụ thể hơn: Nghị quyết 02 và Luật Thủ đô (sửa đổi) chính là "đường băng" để quy hoạch có thể "lăn bánh" và "cất cánh". Nghị quyết đã vạch ra đường lối rất rõ ràng với 5 quan điểm lớn, trong đó có những điểm mang tính đổi mới mạnh mẽ.
Trước hết là xác định lại vai trò, vị thế của Thủ đô Hà Nội, với những nội dung mang tính đột phá hơn trước. Chẳng hạn, trong liên kết vùng, Hà Nội không chỉ đóng vai trò kết nối mà còn giữ vai trò chủ trì. Điều này có nghĩa Hà Nội sẽ định hướng, thiết lập hệ sinh thái phát triển, các địa phương cùng phối hợp và triển khai. Đây là vai trò dẫn dắt rất quan trọng.
Bên cạnh đó, nếu các cơ chế thí điểm được triển khai thành công, Hà Nội có thể trở thành hình mẫu dẫn dắt cả nước trong việc áp dụng cơ chế đặc thù.
Thứ hai, Nghị quyết xác lập mô hình phát triển rất rõ ràng: Xây dựng Hà Nội "văn hiến – văn minh – hiện đại – hạnh phúc", lấy con người làm trung tâm, coi văn hóa là nền tảng và trụ cột của phát triển kinh tế - xã hội. Đây là điểm mới rất quan trọng. Với một Thủ đô nghìn năm văn hiến, có chiều sâu văn hóa đặc biệt, việc coi văn hóa là động lực phát triển sẽ tạo ra lợi thế khác biệt. Các giá trị "văn hiến – bản sắc – sáng tạo" trở thành xuyên suốt trong quá trình phát triển.
Thứ ba, về không gian phát triển, quy hoạch xác định mô hình đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm; phát triển theo hướng động và mở, với trục cảnh quan – sinh thái – văn hóa sông Hồng làm chủ đạo, gắn với liên kết vùng. Đồng thời, cho phép thiết lập các cơ chế đặc thù vượt trội, phân cấp, ủy quyền triệt để và toàn diện; xây dựng hệ thống chính trị và chính quyền Thủ đô vững mạnh, sáng tạo.
Các mục tiêu phát triển cũng được xác định rõ theo từng giai đoạn: Đến 2035, 2045, 2055 và tầm nhìn 100 năm. Đặc biệt, yêu cầu tăng trưởng trên 11% đến năm 2045 là một thách thức lớn, đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Thủ đô phải nỗ lực rất cao. Tuy nhiên, với nền tảng đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế, mục tiêu này là có cơ sở để đạt được nếu triển khai tốt.
Nghị quyết cũng đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp rất cụ thể. Trong khi đó, dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) đã thiết kế khoảng 30 nội dung đặc thù, tạo nền tảng pháp lý cho phát triển, cùng với 7 nhóm điểm mới bổ sung so với Luật năm 2024.
Về quy hoạch, sự tương thích với Nghị quyết và Luật thể hiện rõ ở các định hướng mới: Phát triển đa tầng, đa trung tâm, hình thành 9 vùng động lực – một điểm rất mới; cùng với khoảng 11 đột phá lớn về khoa học - công nghệ, văn hóa, giáo dục - đào tạo… Những đột phá này bám sát tinh thần Nghị quyết và được cụ thể hóa trong Luật Thủ đô (sửa đổi).
Chính sự tương thích này tạo nên "bệ phóng" cho quy hoạch tầm nhìn 100 năm.
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất không chỉ là có "bệ phóng", mà là hành động và quyết tâm thực thi. Một số yếu tố then chốt cần đặc biệt chú ý gồm:
Thiết kế thể chế chi tiết, khả thi. Nâng cao năng lực thực thi của chính quyền Thủ đô. Bảo đảm vận hành đồng bộ, thông suốt giữa luật, quy hoạch và thực tiễn triển khai.
Hiện nay, qua nghiên cứu và tích hợp cả ba trụ cột này, chúng tôi đánh giá mức độ tương thích là rất cao, dù chưa thể khẳng định tuyệt đối. Trong quá trình thực hiện, chắc chắn vẫn sẽ phát sinh những vấn đề cần tiếp tục điều chỉnh. Tuy nhiên, điểm tích cực là trong cả ba hệ thống – từ Nghị quyết, Luật đến Quy hoạch – đều đã có cơ chế "mở" để xử lý các tình huống phát sinh.
Khi triển khai, nếu có vướng mắc từ quy hoạch, hoàn toàn có thể đối chiếu lại với Luật và Nghị quyết để điều chỉnh, hoàn thiện. Đây là một hệ thống thống nhất từ định hướng (Nghị quyết), nền tảng pháp lý (Luật) đến công cụ triển khai (Quy hoạch). Vì vậy, chúng tôi cho rằng sự tương thích của "bộ ba" này là cơ hội rất quý giá để Hà Nội thực sự "cất cánh" trong tương lai, phát triển bền vững và đạt được những mục tiêu đã đề ra.
Thưa ông Trương Việt Dũng, xin ông cho biết sự sẵn sàng cao độ của Hà Nội để cụ thể hóa Luật Thủ đô ngay sau khi chính thức được ban hành như thế nào?

Ông Trương Việt Dũng (giữa) trao đổi tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Thu Giang
Ông Trương Việt Dũng: Dự thảo Luật Thủ đô mới nhất, nếu được thông qua, trao quyền rất lớn cho Thủ đô. Nhưng tổ chức thực hiện và năng lực thực thi là vấn đề rất được quan tâm. Qua nhiều thời kỳ, một số luật của chúng ta, khi được dự thảo và ban hành Luật thì rất hay nhưng quá trình đi vào cuộc sống và thời gian đi vào cuộc sống thì có vẻ chưa tương thích và phù hợp với việc xây dựng Luật.
Rút kinh nghiệm từ thực tiễn và cũng chính từ Luật Thủ đô lần trước, lần này chúng tôi đã khắc phục bằng cách: Không đợi sau khi Luật Thủ đô ban hành thì chúng tôi mới triển khai xây dựng các văn bản thi hành, mà ngay từ lúc xây dựng, thiết kế Luật, lãnh đạo Thành phố đã giao cho 15 sở, ngành thiết kế các khung chi tiết và các văn bản để có thể chính thức vận hành sau khi Luật Thủ đô có hiệu lực. Dự kiến Hà Nội sẽ ban hành khoảng 150 văn bản quy phạm pháp luật để triển khai.
Thứ hai, chúng tôi đã sẵn sàng một kế hoạch hành động trong đó một nhiệm vụ là một dự án, sản phẩm cụ thể, có các mốc tiến độ, có người theo dõi, người đôn đốc, người kiểm soát.
Thứ ba, về năng lực thực thi, chúng tôi gắn việc này với quy hoạch tổng thể Thủ đô và triển khai các việc. Không có cách nào khác là phải đưa Luật vào cuộc sống thì mới hiện thực hóa được quy hoạch Thủ đô, đặc biệt trong giai đoạn trước mắt và hướng tới 100 năm.
Lãnh đạo Thành phố đã có những chỉ đạo và kế hoạch hành động cụ thể. Luật Thủ đô không phải tạo độc quyền mà là cho Hà Nội được quyết định nhanh chóng nhất. Chúng tôi ý thức được việc này. Do đó, lãnh đạo Thành phố và các sở ban ngành xác định trách nhiệm vô cùng lớn trước Đảng, Nhà nước, Quốc hội, các Bộ ban ngành… đã hỗ trợ và giúp đỡ Hà Nội, và đặc biệt là trước niềm tin của cả nhân dân cả nước và Thủ đô.
Thưa các vị khách mời, Hà Nội đặt mục tiêu trở thành đô thị thông minh, trung tâm đổi mới sáng tạo và động lực phát triển của cả nước. Theo quý vị, Luật Thủ đô (sửa đổi) cần những điều kiện gì để khi đi vào cuộc sống thực sự tạo ra bước đột phá, giúp Thủ đô giải quyết các điểm nghẽn lớn như: giao thông, hạ tầng, môi trường, chất lượng sống của người dân? Trước tiên, xin được nghe ý kiến của bà Nguyễn Phương Thủy.

Các vị khách mời tại Tọa đàm - Ảnh: VGP/Thu Giang
Bà Nguyễn Phương Thủy: Tôi cho rằng để luật đi được vào cuộc sống thì không chỉ cần những quy định trong luật phải bảo đảm chất lượng, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện mà cần những điều kiện để bảo đảm cho việc tổ chức triển khai, thi hành luật trong cuộc sống. Như ông Trương Việt Dũng vừa nói, chúng tôi rất phấn khởi bởi vì điều đầu tiên quan trọng là các cơ chế thực thi luật phải được chuẩn bị sẵn sàng. Luật đã trao quyền thì phải trao quyền đầy đủ như quan điểm trong Nghị quyết 15 là phân quyền triệt để, toàn diện. Quốc hội đã giao quyền thì việc tổ chức triển khai như thế nào hết sức quan trọng. Quyền được giao thì phải được thực hiện một cách đến nơi đến chốn. Việc ban hành văn bản quy định chi tiết cũng như triển khai những cơ chế chính sách được giao trong luật chính là điều kiện quan trọng để luật đi vào cuộc sống. Chúng ta biết là theo quan điểm đổi mới trong xây dựng pháp luật, luật bây giờ quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc, vấn đề mang tính khái quát tổng thể. Luật Thủ đô lần này khác với các luật khác là không quy định những cơ chế cụ thể mà trao quyền cho Hà Nội được tự quyết. Tức là Hà Nội quyết, Hà Nội làm và Hà Nội chịu trách nhiệm.
Ở đây không phải là cho quyền, mà đang giao trách nhiệm cho Thủ đô. Và để thực hiện quyền ấy, các văn bản do chính quyền Thủ đô ban hành trong thời gian tới có khối lượng rất lớn, nhưng không phải số lượng là quan trọng. Theo tôi, vấn đề là nội dung của các văn bản này phải rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng. Để tránh việc quyền thì rất nhiều nhưng mà lúc triển khai lại vướng, vướng với luật khác, vướng về cơ chế chính sách không đủ rõ ràng hoặc người thực thi không dám làm.
Vấn đề thứ hai là cái năng lực tổ chức thực thi. Đối với cái đội ngũ cán bộ công chức của Thành phố, chúng tôi thấy vừa rồi với sự chỉ đạo rất sát sao của Thành ủy cũng như Ủy ban nhân dân rồi chính quyền các cấp, yêu cầu đối với cán bộ của Hà Nội được nâng cao rất nhiều. Chúng ta kiểm soát công việc qua KPI, kiểm soát qua hiệu quả, qua kết quả thực tế, đánh giá thường xuyên. Khi chúng tôi tiếp xúc cử tri trên địa bàn thành phố Hà Nội thấy anh em ở cơ sở khá là áp lực. Trách nhiệm rất cao nhưng áp lực cũng rất lớn. Chúng tôi hết sức chia sẻ. Điều này đòi hỏi Thành phố phải hết sức quan tâm trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sử dụng cán bộ đúng người đúng việc.
Vấn đề thứ ba là công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch. Chúng ta thấy điểm nghẽn hiện nay như giao thông, hạ tầng, môi trường đều có nguyên nhân sâu xa từ vấn đề quy hoạch và quản lý quy hoạch. Nếu chúng ta không làm tốt khâu quy hoạch thì các điểm nghẽn này rất khó giải quyết hoặc là giải quyết được điểm này thì lại phát sinh điểm khác. Vừa qua Hà Nội đang xây dựng đề án quy hoạch tổng thể Thủ đô và đã công bố lấy ý kiến, các chuyên gia, nhà khoa học, các cơ quan tổ chức và đặc biệt là người dân hết sức quan tâm dự thảo đề án quy hoạch này. Qua các phương tiện thông tin đại chúng, chúng tôi thấy các ý kiến đóng góp trực tiếp cho Thành phố cũng nhiều và bên cạnh đó, cũng rất nhiều ý kiến thể hiện quan điểm, thậm chí trên mạng xã hội. Chúng tôi mong Thành phố cầu thị, lắng nghe và xem xét lựa chọn phương án thực sự hợp lý, có tính khoa học, có tầm nhìn, có căn cứ cơ sở để đáp ứng yêu cầu phát triển của Thủ đô trong kỷ nguyên mới cũng như là bảo đảm hiện thực hóa lợi ích của người dân và doanh nghiệp.
Vấn đề thứ tư là cái việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Luật đã đưa ra rất nhiều cơ chế cho phép Hà Nội được tăng, được giữ lại nguồn tăng thu, được khai thác những giá trị gia tăng từ đất đai, thậm chí phát hành trái phiếu để huy động thêm các nguồn lực từ xã hội. Từ những quy định ấy chúng ta phải cụ thể hóa thành những dự án, công trình cụ thể mang lại giá trị, hiệu quả thiết thực cho người dân, cho xã hội nói chung.
Thứ năm là tăng cường tính công khai minh bạch trong quá trình triển khai thực hiện các quy định của luật với sự tham gia của người dân, của doanh nghiệp. Đây chính là những đối tượng thụ hưởng các chính sách và cũng là thước đo hiệu quả các chính sách của chúng ta. Những vấn đề như giao thông, môi trường hay chất lượng quản lý đô thị nếu có sự tham gia, đồng thuận của người dân, của doanh nghiệp cũng như sự giám sát của người dân, của xã hội nói chung thì hiệu quả sẽ được tăng cường rất nhiều.
Cuối cùng theo tôi, phải có cơ chế để theo dõi, đánh giá và điều chỉnh kịp thời khi chúng ta thực hiện những cơ chế chính sách, đặc biệt là những cơ chế chính sách mang tính thí điểm. Trong quá trình triển khai, chắc chắn sẽ có những vấn đề phát sinh và như ông Trương Việt Dũng vừa nói, Hà Nội đang dự kiến áp dụng nhiều mô hình quản lý, quản trị mới, tiên tiến chưa có tiền lệ ở Việt Nam. Chắc chắn sẽ có những vấn đề cần phải có cái sự điều chỉnh nên chúng ta phải có cơ chế theo dõi cập nhật thường xuyên để có những điều chỉnh một cách kịp thời nhất, tránh phát sinh những hậu quả, rủi ro không mong muốn và không lường được trước.
Tôi tin rằng nếu làm tốt những điều này, các cơ chế chính sách của Luật Thủ đô sẽ thực sự đi vào cuộc sống và giải quyết được các điểm nghẽn lớn, các bài toán lớn của Thủ đô trong hiện tại cũng như cả tương lai sau này. Qua đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng đời sống cho người dân một cách bền vững. Vừa qua Hà Nội đã có một bước chuyển rất lớn cả về đầu tư xây dựng phát triển và các chính sách mang tính chiều sâu. Hà Nội đang cho cả nước thấy rằng là Hà Nội hôm nay đang trở thành Hà Nội là nói là làm, làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả. Do đó Quốc hội, nhân dân cả nước nói chung cũng như người dân Thủ đô đang hết sức trông mong và kỳ vọng vào các cấp ủy, chính quyền và toàn bộ hệ thống chính trị của Hà Nội nói chung trong việc biến những nội dung đó trở thành những lời hứa, những cam kết hành động để biến quy hoạch, tầm nhìn sớm trở thành hiện thực và thực sự đưa Thủ đô Hà Nội của chúng ta trở thành một Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại và hạnh phúc.
Xin được nghe thêm ý kiến của ông Nguyễn Quốc Hoàn!
Ông Nguyễn Quốc Hoàn: Trước hết, tôi rất chia sẻ với ý kiến của bà Nguyễn Phương Thủy về những điều kiện cần thiết để Luật Thủ đô có thể thực thi được ngay. Từ góc độ của những người tham mưu cho công tác xây dựng pháp luật, tôi nhấn mạnh thêm 3 ý.
Thứ nhất là vấn đề liên quan đến các văn bản quy định chi tiết và các văn bản hướng dẫn tổ chức thi hành Luật Thủ đô. Ở đây, có một điểm rất đặc biệt như chúng ta đã biết, Luật Thủ đô trao quyền cho Hà Nội nên trong Luật rất ít những cơ chế chính sách mà trên cơ sở đó, hướng dẫn để thực hiện được ngay. Vấn đề đặt ra là, Hà Nội phải thiết kế chính sách để thực thi và chính sách thiết kế để phù hợp với Hà Nội trong bối cảnh, yêu cầu như hiện nay là một thách thức rất lớn. Trong khi đó, Luật dự kiến ngày 1/7/2026 sẽ có hiệu lực nên đây là một khối lượng công việc khổng lồ với các cơ quan của Hà Nội khi phải thiết kế chính sách phù hợp có thể thực thi được ngay.
Thứ hai, chúng tôi cho rằng, cán bộ, công chức Hà Nội không phải chỉ đơn thuần là thực thi chính sách mà phải là người thiết kế chính sách.
Như vậy, ở giai đoạn xây dựng các văn bản quy định chi tiết và các văn bản hướng dẫn thi hành, Hà Nội vừa phải đóng vai thiết kế chính sách vừa phải tổ chức triển khai các chính sách đó. Đây cũng là một thách thức rất lớn đối với các cơ quan chuyên môn của thành phố Hà Nội.
Chính vì vậy, nguồn lực về con người trong quá trình thiết kế chính sách chắc chắn phải huy động rất lớn, không phải chỉ đội ngũ cán bộ công chức của Hà Nội. Tôi nghĩ rằng, chúng ta cần phải có thêm chuyên gia ở các cơ quan Trung ương, chuyên gia ở các hệ thống khác nhau cùng chung tay với Hà Nội để có thể thiết kế những chính sách phản ánh đúng đặc thù và mong muốn mà Hà Nội đang được trao quyền trong dự thảo Luật Thủ đô.
Thứ ba, chúng ta đều biết là những cơ chế chính sách để thực thi một cách hiệu quả đòi hỏi nguồn lực về mặt tài chính. Điều này cũng là thách thức. Chính vì vậy, chúng ta cũng cần phải có các giải pháp để có nguồn lực bảo đảm đủ mạnh, đủ linh hoạt và bền vững để thực thi các chính sách.
Như chúng ta đã biết, mục tiêu của Luật Thủ đô là xây dựng một thể chế bền vững và ổn định lâu dài. Cho nên, việc bảo đảm nguồn lực cho thực thi chính sách lâu dài cũng là một trong những điều kiện để luật được thực hiện có hiệu quả.
Qua trao đổi tại Tọa đàm hôm nay, có thể thấy rằng, việc sửa đổi Luật Thủ đô lần này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển của Hà Nội.
Dự thảo Luật đã thể hiện rõ tinh thần trao quyền cho "Hà Nội quyết, Hà Nội làm, Hà Nội chịu trách nhiệm", tạo điều kiện để Hà Nội chủ động hơn trong quản lý, điều hành và phát triển.
Cùng với đó, nhiều cơ chế, chính sách đặc thù về quản trị đô thị hiện đại, thu hút nhân tài, phát triển khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và đầu tư phát triển sẽ tạo động lực mới cho Thủ đô bứt phá trong giai đoạn tới.
Luật Thủ đô (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ trở thành nền tảng thể chế quan trọng, giúp Hà Nội phát huy vai trò đầu tàu, cực tăng trưởng của cả nước; đồng thời xây dựng Thủ đô trở thành đô thị hiện đại, văn minh, thông minh và đáng sống./.













