Tư duy 'thuế động' ứng phó thuế quan Mỹ?

'Khi các mối quan hệ kinh tế thương mại đều biến động, các chuỗi cung ứng phải đổi mới liên tục, một chính sách thuế cố định không thể giải quyết thỏa đáng, hài hòa quyền lợi của cả nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và người tiêu dùng', ông Trần Chí Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Hiệp hội Doanh nghiệp logistics Việt Nam, trao đổi với Kinh tế Sài Gòn.

“Thuế động” là gì?

KTSG: Dù Tòa án Tối cao Mỹ vừa ra phán quyết bác bỏ mức thuế đối ứng mà chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố vào tháng 4-2025, thuế quan được nhận định vẫn là một chính sách nhất quán của nhiệm kỳ tổng thống Mỹ đương nhiệm. Trong một buổi webinar mới tổ chức, ông đã đề xuất, chúng ta nên cân nhắc tư duy đàm phán về một mức “thuế động”, điều chỉnh theo từng lô hàng. Xin ông giải thích rõ hơn về tư duy “thuế động” này.

- Ông Trần Chí Dũng: Đây là một ý tưởng rất mới, trên thế giới chưa từng có quốc gia hay tổ chức nào thử nghiệm cách thức đánh thuế này. Dù vậy, tôi tin rằng giải pháp này là phù hợp, khả thi.

Có thể nói, với xu hướng thương mại toàn cầu hiện nay, công thức tính thuế dựa trên giá thành, gồm giá sản xuất cộng chi phí vận chuyển đã có phần lạc hậu. Giá sản xuất phụ thuộc nhiều vào nguồn gốc xuất xứ, nhiều quốc gia khởi động phòng vệ thương mại để trừng phạt tình trạng nhà sản xuất lẩn tránh thuế thông qua một nước thứ ba. Giá thành sản phẩm cũng sẽ cao hơn nếu doanh nghiệp tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe hơn về môi trường, sử dụng lao động, ESG… Động lực để doanh nghiệp chuyển đổi mô hình quản trị - sản xuất sẽ khó hình thành nếu sản phẩm của họ bị áp dụng mức thuế ngang bằng với các doanh nghiệp không thực hành theo các tiêu chuẩn này.

Nhìn rộng hơn, khi các mối quan hệ kinh tế thương mại đều biến động, các chuỗi cung ứng phải đổi mới liên tục, một chính sách thuế cố định không thể giải quyết thỏa đáng, hài hòa quyền lợi của cả nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và người tiêu dùng. Tư duy “thuế động”, dựa trên sự minh bạch chuỗi cung ứng từ nguyên liệu đầu vào đến quá trình sản xuất, vận chuyển, từ đó, ưu đãi thuế quan các lô hàng, các nhà sản xuất tuân thủ đầy đủ các yêu cầu, tiêu chuẩn đặt ra sẽ là một lựa chọn thuyết phục.

Xét từ khía cạnh mục tiêu của thuế nhập khẩu, thông thường, chính sách này nhắm tới hai mục tiêu chính là bảo vệ thị trường trong nước và điều tiết dòng hàng hóa, dòng đầu tư. Tuy nhiên, không có quan hệ thương mại nào diễn ra chỉ theo một chiều, vì thế, khi thuế bị nâng cao, thị trường và người tiêu dùng nước nhập khẩu cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Chẳng hạn, theo tính toán của Cục Dự trữ liên bang Mỹ chi nhánh New York, trong năm 2025, các doanh nghiệp và người tiêu dùng Mỹ đã chi trả gần 90% tổng số thuế nhập khẩu được áp dụng. Cụ thể hơn, Tax Foundation ước tính, các mức thuế quan này tương đương mức tăng thuế trung bình 1.000 đô la Mỹ mỗi hộ gia đình. Vậy nên, đánh thuế chính xác tới từng lô hàng, từng nhà xuất khẩu sẽ giảm sốc cho thị trường và hạn chế các tác động không mong muốn tới doanh nghiệp và người tiêu dùng. Nghĩa là, chúng ta cần một chính sách “thuế động” chứ không phải một mức thuế cứng áp dụng đại trà.

Như tôi đã đề cập, mấu chốt của “thuế động” là tính minh bạch. Tại các nước phát triển, hạ tầng, công nghệ và công cụ kiểm soát tính minh bạch đều đã rất hoàn thiện. Nếu họ chấp nhận tư duy “thuế động”, hiện thực hóa chính sách này là một việc trong tầm tay.

KTSG: Đứng ở góc độ nước nhập khẩu là Mỹ, theo ông, họ có đồng tình với đề xuất “thuế động” hay không và vì sao?

- Tư duy “thuế động” nên được hiểu như một ý tưởng mới để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, dựa trên các căn cứ và phương pháp của khoa học để đánh giá tính khả thi cũng như khả năng, điều kiện áp dụng trong thực tế. Tiếp đó mới là câu hỏi, chúng ta có thể thuyết phục được các thị trường nhập khẩu, trong đó có Mỹ, chấp nhận chính sách này hay không.

Tôi cho rằng, thị trường Mỹ thường cởi mở với các sáng kiến mang lại lợi ích cho doanh nghiệp và người tiêu dùng của họ. Khi Việt Nam chủ động đề xuất một chính sách và hệ thống quản lý chuỗi cung ứng trong đó minh bạch hóa về nguồn gốc xuất xứ, quy trình sản xuất, chứng minh rằng hàng hóa xuất khẩu của chúng ta không chỉ “made in Vietnam” và còn “made by Vietnam”, nhiều khả năng, chúng ta sẽ được ủng hộ, chấp thuận.

Chúng ta còn có một lợi thế khác. Việt Nam đang đảm nhận chức vụ Phó chủ tịch Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận và Vận tải quốc tế - FIATA. Trong sự kiện FIATA World Congress 2025 được tổ chức rất thành công tại Việt Nam vào tháng 10-2025, rất nhiều giải pháp để đảm bảo chuỗi cung ứng thân thiện, bền vững đã được thảo luận. Đây là cơ sở để chúng ta đề xuất một chính sách mới hoàn toàn như “thuế động” và xác định đó là giải pháp hỗ trợ cho tất cả các mắt xích của quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm.

Xuất khẩu tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ đạo. Ảnh: H.P

Xuất khẩu tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ đạo. Ảnh: H.P

Doanh nghiệp đã sẵn sàng “minh bạch”

KTSG: Từ phía Việt Nam, để đặt vấn đề về mức “thuế động” theo từng lô hàng như trên, việc đầu tiên là phải minh bạch hóa và số hóa chuỗi cung ứng, sản xuất và vận chuyển hàng hóa và hệ thống dữ liệu phải đủ tin cậy để thuyết phục phía nhập khẩu. Đối với chúng ta, nhiệm vụ này có khả thi?

- Minh bạch đã là yêu cầu bắt buộc với doanh nghiệp Việt Nam, bao gồm cả doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh cá thể. Các giao dịch thương mại đều phải có hóa đơn chứng từ, xác định nguồn gốc xuất xứ… Nếu không tuân thủ quy định, doanh nghiệp buộc phải đứng bên ngoài cuộc chơi.

Chuyển đổi số giúp các doanh nghiệp nhanh chóng đáp ứng yêu cầu nêu trên và công cuộc này nhận được sự hỗ trợ, khuyến khích từ phía quản lý nhà nước. Đối với các doanh nghiệp có định hướng xuất khẩu, họ chỉ cần tiến thêm một bước là số hóa để xác thực toàn bộ chu trình hình thành sản phẩm, hàng hóa từ khâu nguyên liệu, nhân công, quy trình sản xuất, vận chuyển... Các giải pháp công nghệ hiện có tại Việt Nam đã sẵn sàng phục vụ các doanh nghiệp có nhu cầu.

Tất nhiên, việc tích hợp dữ liệu từ doanh nghiệp vào một hệ thống chung để phục vụ cho chính sách “thuế động” sẽ đòi hỏi một nền tảng mới, tương thích với các công cụ kiểm tra, giám sát của các nước nhập khẩu. Dù đây là một nền tảng mang tính chất “đổi mới sáng tạo”, một khi đề bài được đặt ra, tôi tin rằng, doanh nghiệp công nghệ của chúng ta sẽ làm được. Kinh tế số, thương mại số thì phải có thuế số, và thuế số không nên là một con số cố định, áp dụng máy móc với mọi trường hợp.

KTSG: Trong sự kiện vừa đề cập ở trên, ông cũng nhận định, những bất ổn thương mại toàn cầu sẽ dẫn đến việc các đơn hàng nhỏ đi, là cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Minh bạch hóa chuỗi cung ứng là điều kiện cần, vậy điều kiện đủ để doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tận dụng được cơ hội này là gì, thưa ông?

- Tôi có một người bạn ở Úc đang phân phối 29 thương hiệu gạo châu Á sang thị trường châu Âu. Hàng tuần, doanh nghiệp này sẽ gom gạo tại từng quốc gia, theo từng pallet (khoảng vài trăm ki lô gam) rồi chạy tàu sang tổng kho ở Hà Lan, từ đó, vận chuyển hàng hóa tới 3.000 cửa hàng trên khắp châu Âu. Mỗi cửa hàng chỉ đặt một vài pallet, bán hết trong tuần rồi đặt tiếp hàng cho tuần sau. Nghĩa là, hiện nay đơn hàng xuất khẩu nhỏ nhất là thùng pallet. Một hộ gia đình trồng lúa đặc sản trên diện tích vài mẫu đã có thể tham gia xuất khẩu gạo cho các doanh nghiệp như trên.

Vậy làm sao để doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí, hộ kinh doanh cá thể hội nhập với cuộc chơi mới? Lời giải nằm ở sự phối hợp giữa xúc tiến thương mại với logistics. Trong đó, logistics hướng dẫn hộ kinh doanh nhỏ sản xuất, đóng gói để đảm bảo tuân thủ các quy định của nhà nhập khẩu, xác thực nguồn gốc xuất xứ và sẵn sàng để nhận đơn hàng nhỏ nhất đến 1 pallet.

Khi đó, xúc tiến thương mại sẽ tập trung vào chuyển tải thông điệp về các loại hàng hóa Việt Nam dù sản xuất quy mô nhỏ nhưng với công nghệ cao, đạt các tiêu chuẩn quốc tế. Những công việc như vậy trước đây đòi hỏi rất nhiều nhân sự, thời gian nhưng với sự tiến bộ của công nghệ và nỗ lực chuyển đổi số của doanh nghiệp, chúng ta có thể làm tốt việc này.

Hoàng Hạnh

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/tu-duy-thue-dong-ung-pho-thue-quan-my/