Từ sổ đỏ giấy đến dữ liệu số - cuộc cách mạng định danh đất đai

Định danh thửa đất, chuẩn hóa dữ liệu địa điểm đang mở đường chuyển quản lý đất đai từ hồ sơ giấy sang dữ liệu số theo hướng minh bạch và hiện đại.

Ngày 10/8, Hiệp hội Dữ liệu Quốc gia (NDA) phối hợp với Mạng lưới Chuyên gia Dữ liệu Toàn cầu (VDEN) tổ chức Hội thảo “Quản lý dữ liệu địa điểm - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia (Bộ Công an) phát biểu tại Hội thảo

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia (Bộ Công an) phát biểu tại Hội thảo

Định danh địa điểm để kết nối các lớp dữ liệu

Phát biểu tại Hội thảo, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia (Bộ Công an), Phó Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu Quốc gia cho rằng, dữ liệu đang trở thành nguồn lực chiến lược của mỗi quốc gia, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quản trị quốc gia và phát triển kinh tế dữ liệu.

Trong các nhóm dữ liệu nền tảng, dữ liệu địa điểm, không gian có ý nghĩa đặc biệt khi không chỉ xác định vị trí địa lý mà còn có thể trở thành điểm kết nối giữa con người, tổ chức, tài sản, công trình, doanh nghiệp và các hoạt động kinh tế - xã hội.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Việt Nam đã hình thành nhiều hệ thống bản đồ, dữ liệu địa lý và nền tảng công nghệ do các cơ quan, đơn vị khác nhau xây dựng. Tuy nhiên, dữ liệu vẫn còn tình trạng thiếu đồng nhất, kết nối và khai thác chưa tương xứng với tiềm năng. Vì vậy, chuẩn hóa và thống nhất dữ liệu địa điểm cần được xem là một nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia.

“Dữ liệu địa điểm không chỉ để xác định một vị trí. Nếu được chuẩn hóa và kết nối, đó có thể là điểm giao giữa con người, tài sản, doanh nghiệp, công trình và các hoạt động kinh tế - xã hội”, ông Cương nhấn mạnh.

Từ góc nhìn này, việc xây dựng mã định danh địa điểm không thể chỉ dừng ở một con số. Mã định danh cần có khả năng kết nối với các lớp dữ liệu liên quan, từ chủ thể sở hữu, tài sản trên đất đến thông tin về công trình, xây dựng và hoạt động kinh tế - xã hội.

Nếu con người được định danh, tài sản được định danh thì địa điểm cũng cần được định danh thống nhất. Khi các lớp dữ liệu được kết nối, Việt Nam sẽ có điều kiện phát triển các dịch vụ và mô hình khai thác dữ liệu ở quy mô lớn.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương cho biết, nhiều quốc gia như Singapore, Hàn Quốc, Australia đã xây dựng hệ thống dữ liệu địa điểm quốc gia theo chuẩn thống nhất, gắn dữ liệu không gian với dữ liệu số để chia sẻ, khai thác trên diện rộng. Đây là những kinh nghiệm Việt Nam có thể nghiên cứu, lựa chọn để xây dựng mô hình phù hợp với thực tiễn.

Dữ liệu địa điểm khi được chuẩn hóa, liên thông có thể hỗ trợ giải quyết nhiều bài toán, từ quy hoạch đô thị, quản lý đất đai, cấp phép xây dựng đến logistics, thương mại điện tử, ứng cứu khẩn cấp và cung cấp dịch vụ công.

Theo đó, hạ tầng dữ liệu địa điểm cần được đặt trong tổng thể hạ tầng dữ liệu chiến lược quốc gia, kết nối với dữ liệu dân cư, doanh nghiệp, đất đai, tài khoản số và các nền tảng dữ liệu quốc gia khác.

Để khai thác hiệu quả nguồn lực này, ông Cương cho rằng đây không phải bài toán công nghệ đơn thuần mà liên quan đồng thời đến thể chế, tiêu chuẩn, dữ liệu, công nghệ, quản trị và nhu cầu sử dụng thực tế.

Ở góc độ chủ quyền dữ liệu, Trung tá Đào Đức Triệu - Tổng Thư ký Hiệp hội Dữ liệu Quốc gia cho rằng, dữ liệu đất đai là một nhu cầu rõ nét, trong khi logistics về bản chất gắn chặt với dữ liệu vị trí, địa điểm. Vì vậy, dữ liệu địa điểm cần được xây dựng theo nguyên tắc sạch, đầy đủ, thống nhất và dùng chung, tạo nền tảng kết nối đất đai, logistics, giao thông, quy hoạch, môi trường và nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội khác.

Từ mã định danh thửa đất đến quản lý bằng dữ liệu

Ông Nguyễn Hồng Sơn, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Dữ liệu Quốc gia nhận định, dưới góc nhìn dữ liệu, địa điểm không chỉ là một vị trí địa lý mà chứa đựng con người, thửa đất hay doanh nghiệp. Khi được chuẩn hóa, định danh và kết nối, dữ liệu địa điểm trở thành nền tảng liên kết cốt lõi cho nền kinh tế số.

Dữ liệu đất đai là một trong những nguồn thông tin nền tảng đối với quản lý nhà nước và phát triển kinh tế

Dữ liệu đất đai là một trong những nguồn thông tin nền tảng đối với quản lý nhà nước và phát triển kinh tế

Nguồn tài nguyên này giúp tối ưu hóa chuỗi cung ứng logistics, hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước liên thông dữ liệu dân cư, đất đai, dịch vụ công, đồng thời cung cấp đầu vào chính xác để trí tuệ nhân tạo tương tác với thế giới thực. Ngành quản lý đất đai đang hiện thực hóa định hướng này qua việc xây dựng mã định danh thửa đất.

Ông Đinh Hồng Phong, Cục Quản lý đất đai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, dữ liệu đất đai là nguồn thông tin nền tảng đối với quản lý nhà nước và phát triển kinh tế. Trong khi đó, cách xác định thửa đất dựa nhiều vào địa giới hành chính trước đây bộc lộ hạn chế khi xảy ra sắp xếp, sáp nhập hoặc điều chỉnh địa giới.

Trước đây, thửa đất được xác định chủ yếu theo xã, phường, huyện, tỉnh, cùng tờ bản đồ và số thửa. Khi địa giới thay đổi, hệ thống quản lý phải mất nhiều thời gian cập nhật; dữ liệu cũng dễ mang tính cục bộ. Các trường hợp tách thửa, hợp thửa càng đặt ra yêu cầu về một phương thức định danh ổn định hơn.

Từ thực tế đó, Cục Quản lý đất đai chuyển sang xây dựng mã định danh thửa đất, tương tự mã định danh công dân. Mỗi thửa đất được gắn một mã riêng, độc lập với thay đổi địa giới hành chính. Mã được mã hóa trực tiếp từ tọa độ vị trí, qua đó bảo đảm tính duy nhất, ổn định và cho phép xác định thửa đất trên bản đồ số.

Từ cuối năm 2025, cơ quan quản lý bắt đầu triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, với yêu cầu 100% thửa đất đưa vào cơ sở dữ liệu phải có mã định danh. Đến nay, đã có 6,97 triệu thửa đất trên toàn quốc được đưa vào cơ sở dữ liệu và gắn mã định danh.

Theo ông Phong, mã định danh không chỉ phục vụ xác định vị trí mà còn là nền tảng để xây dựng hồ sơ địa chính số đến từng thửa đất, hỗ trợ tra cứu thông tin về chủ thể, tình trạng pháp lý và lịch sử biến động.

Một định hướng quan trọng khác là xây dựng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất điện tử, từng bước thay thế phương thức quản lý chủ yếu bằng hồ sơ giấy. Khi thông tin đất đai và giấy chứng nhận được số hóa, các biến động có thể cập nhật trực tiếp vào cơ sở dữ liệu, giúp người dân và cơ quan quản lý tra cứu theo thời gian thực, đồng thời hạn chế nguy cơ làm giả hồ sơ hoặc sử dụng giấy chứng nhận để thế chấp nhiều lần.

Đây cũng là điều kiện để triển khai dịch vụ công trực tuyến toàn trình trong lĩnh vực đất đai. Khi dữ liệu được số hóa, người dân có thể nhập mã định danh thửa đất để hệ thống tự động truy xuất thông tin, phục vụ các giao dịch chuyển nhượng, thế chấp và xác định nghĩa vụ tài chính.

Các cơ sở dữ liệu về đất đai, dân cư, nhà ở và thuế sẽ được liên thông, giúp tự động hóa quy trình xử lý và thanh toán nghĩa vụ tài chính. Qua đó, quản lý đất đai từng bước chuyển từ mô hình dựa trên hồ sơ giấy sang quản lý bằng dữ liệu.

Từ kinh nghiệm quốc tế, tiến sĩ Lưu Vĩnh Toàn, Giám đốc Phân tích kỹ thuật UPS Group tại Thụy Sĩ cho biết, hệ thống dữ liệu địa chỉ của Thụy Sĩ được tổ chức theo nhiều cấp, từ liên bang đến các khu vực trung gian và đô thị. Đáng chú ý, mạng lưới bưu chính đóng vai trò quan trọng, với khoảng 4.000 vùng mã bưu chính.

Một địa chỉ tại Thụy Sĩ cơ bản gồm 4 thành phần: tên đường, số nhà, mã bưu chính và tên đô thị. Thông tin về bang không nhất thiết xuất hiện trong địa chỉ; thay vào đó, mã bưu chính 4 chữ số giúp xác định địa chỉ thuộc đô thị hoặc khu vực nào.

Theo ông Toàn, đây là kinh nghiệm Việt Nam có thể nghiên cứu. Việc sử dụng mã bưu chính như một thành phần định danh giúp rút gọn địa chỉ, hạn chế nhầm lẫn và thuận lợi hơn trong quản lý, xử lý dữ liệu.

Nhìn rộng hơn, từ định danh con người, tài sản đến định danh địa điểm, yêu cầu xuyên suốt là xây dựng các lớp dữ liệu có khả năng “nhìn thấy nhau”, hiểu được nhau và kết nối với nhau. Khi đó, dữ liệu địa điểm không chỉ là thông tin xác định một vị trí, mà trở thành hạ tầng kết nối các nguồn lực của nền kinh tế số.

Hà Sơn

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/tu-so-do-giay-den-du-lieu-so-cuoc-cach-mang-dinh-danh-dat-dai-186102.html