Từ tăng trưởng đến thịnh vượng, hạnh phúc

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế chưa bao giờ là mục tiêu tự thân. Đằng sau tăng trưởng, sản xuất và tích lũy của cải là một yêu cầu nhất quán: làm cho nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời, tạo nền tảng để dân tộc vươn lên độc lập, tự cường, phồn vinh. Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm và khơi dậy khát vọng dân tộc tiếp tục gợi mở một hệ quy chiếu quan trọng cho lựa chọn mô hình phát triển.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, giữa muôn vàn khó khăn của một nhà nước non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một chuẩn mực rất rõ ràng: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Câu nói ấy hàm chứa một quan niệm phát triển vượt ra ngoài logic tăng trưởng thuần túy. Độc lập phải gắn với quyền được sống, quyền được phát triển và khả năng thụ hưởng thành quả phát triển của mỗi người dân. Kinh tế, vì thế, là phương tiện để nâng cao đời sống, phát triển con người và củng cố sức mạnh quốc gia.

Khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, tư tưởng ấy càng có ý nghĩa thời sự. Vấn đề không chỉ là Việt Nam tăng trưởng bao nhiêu, mà tăng trưởng tạo ra điều gì cho người dân, được phân bổ như thế nào và có tạo thành động lực để cả xã hội cùng vươn lên hay không

Một quan điểm xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là phát triển kinh tế phải phục vụ con người. Người nhiều lần nhấn mạnh nhiệm vụ của chính quyền là làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành; đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng cao.

Gần bốn thập niên đổi mới, Việt Nam đã đi một chặng đường dài từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đến một nền kinh tế có quy mô ngày càng lớn, hội nhập sâu rộng và có vị thế cao hơn trên trường quốc tế. Nếu chỉ nhìn vào GDP, tốc độ tăng trưởng hay kim ngạch thương mại thì chưa phản ánh đầy đủ ý nghĩa của quá trình này.

Điểm đáng chú ý hơn là sự chuyển biến trong tư duy phát triển. Ở giai đoạn đầu đổi mới, ưu tiên lớn nhất là giải phóng lực lượng sản xuất, khắc phục thiếu hụt, tạo việc làm và thoát nghèo. Khi nền kinh tế đã đạt trình độ phát triển mới, yêu cầu không còn chỉ là tăng trưởng nhanh mà phải tăng trưởng bao trùm, bền vững, nâng cao chất lượng sống và mở rộng cơ hội phát triển.

Thực tiễn giảm nghèo là một minh chứng rõ nét. Việt Nam đã đạt nhiều kết quả trong giảm tỷ lệ hộ nghèo, mở rộng an sinh xã hội, phổ cập giáo dục và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế. Dưới góc nhìn Hồ Chí Minh học, đó không chỉ là thành tựu kinh tế - xã hội mà còn là quá trình hiện thực hóa quyền được phát triển của con người.

Bởi vậy, “hiệu quả kinh tế” cần được nhìn rộng hơn. Tăng trưởng vẫn là điều kiện cần để tạo nguồn lực cho an sinh, giáo dục, y tế và hạ tầng, nhưng chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành chất lượng sống và năng lực phát triển của con người.

Nếu hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu thì khát vọng dân tộc là một nguồn động lực đặc biệt quan trọng.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khát vọng dân tộc trước hết thể hiện ở ý chí giành độc lập, tự do. Khi giành được độc lập, khát vọng ấy chuyển hóa thành mong muốn xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh và có vị thế xứng đáng trên thế giới.

Khát vọng đó không phải sự lãng mạn hóa ý chí hay duy ý chí, mà được đặt trên nền tảng tự lực, tự cường, phát huy trí tuệ nhân dân, đồng thời biết tranh thủ sức mạnh của thời đại và chủ động hội nhập.

Trong bối cảnh hiện nay, nguồn lực phát triển không chỉ là vốn, tài nguyên, lao động hay hạ tầng. Với một quốc gia muốn rút ngắn khoảng cách phát triển, niềm tin xã hội, ý chí vươn lên, tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng đóng góp có thể trở thành một dạng “vốn phát triển” đặc biệt.

Đại hội lần thứ XIII của Đảng đặt vấn đề khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc như một yêu cầu chiến lược. Các mục tiêu đến năm 2030 và 2045 không chỉ là những mốc kinh tế, mà còn tạo ra một tầm nhìn phát triển đủ lớn để huy động sức mạnh xã hội.

Từ góc nhìn này, tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế có thể được xem như những biểu hiện mới của khát vọng tự cường. Nếu trong lịch sử, sức mạnh dân tộc được huy động chủ yếu để giành và giữ độc lập, thì hiện nay sức mạnh ấy cần được chuyển hóa thành năng suất, sáng tạo, năng lực cạnh tranh, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng làm chủ công nghệ.

Những chuyển động này phản ánh logic kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại: tự lực không có nghĩa là khép kín, tự cường không có nghĩa là tự cô lập. Cốt lõi là nâng cao nội lực để chủ động hợp tác và cạnh tranh.

Dù đạt nhiều kết quả quan trọng, thực tiễn cho thấy việc hiện thực hóa tư tưởng phát triển vì hạnh phúc nhân dân vẫn còn những khoảng cách.

Thứ nhất, chất lượng tăng trưởng. Mô hình tăng trưởng của Việt Nam đang chuyển đổi, nhưng ở một số lĩnh vực vẫn phụ thuộc đáng kể vào vốn đầu tư, khai thác tài nguyên, gia công và lao động chi phí thấp. Trong khi đó, giai đoạn mới đòi hỏi chuyển mạnh sang tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.

Thứ hai, khoảng cách trong tiếp cận cơ hội. Dù thành tựu giảm nghèo rất đáng ghi nhận, chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng thuận lợi với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn tồn tại. Khả năng tiếp cận giáo dục chất lượng cao, dịch vụ y tế hiện đại, việc làm bền vững và hạ tầng số chưa đồng đều.

Thứ ba, mối quan hệ giữa tăng trưởng với môi trường, văn hóa và chất lượng sống. Công nghiệp hóa, đô thị hóa và mở rộng sản xuất tạo ra của cải nhưng cũng gây sức ép lên tài nguyên, không gian sống và môi trường. Một mô hình phát triển tối ưu hóa tốc độ trong ngắn hạn nhưng làm gia tăng chi phí xã hội trong dài hạn sẽ khó phù hợp với tinh thần phát triển vì con người.

Thứ tư, bài toán chuyển hóa khát vọng thành hành động. Khát vọng chỉ trở thành nguồn lực khi được cụ thể hóa thành thể chế, trách nhiệm và năng lực thực thi. Trong thực tế, vẫn còn biểu hiện thụ động, ngại đổi mới, sợ sai, sợ trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ và tổ chức. Đây là lực cản đối với cải cách và đổi mới sáng tạo.

Từ góc nhìn Hồ Chí Minh học, vấn đề không nằm ở việc thiếu mục tiêu lớn, mà ở khả năng biến mục tiêu chung thành động lực của từng chủ thể. Khi người dân, doanh nghiệp, cán bộ và trí thức nhìn thấy cơ hội đóng góp và được khuyến khích sáng tạo vì lợi ích chung, khát vọng dân tộc mới có thể chuyển thành năng lực phát triển thực tế.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và cạnh tranh toàn cầu, phát triển con người trở thành yếu tố quyết định khả năng hiện thực hóa khát vọng dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh từ rất sớm đã đặt con người vào vị trí vừa là mục tiêu, vừa là động lực. Vận dụng quan điểm đó hôm nay đòi hỏi hiểu phát triển con người theo nghĩa rộng: không chỉ là học vấn hay kỹ năng nghề nghiệp, mà còn là năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng, đạo đức, trách nhiệm xã hội, bản lĩnh và khát vọng cống hiến.

Một nền kinh tế muốn chuyển lên nấc thang giá trị cao hơn không thể chỉ dựa vào lao động giá rẻ; một quốc gia muốn phát triển nhanh không thể chỉ dựa vào đầu tư vật chất mà phải khai mở tối đa tiềm năng con người. Điều đó đặt ra yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển kỹ năng số và tạo môi trường để người có năng lực được làm việc, sáng tạo và chịu trách nhiệm

Trong điều kiện toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu, chuyển đổi số và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, điều cần thiết là phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trên nền tảng những giá trị bền vững: lấy con người làm trung tâm; phát huy nội lực và tinh thần tự cường; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; gắn tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội. Từ đó, bốn yêu cầu lớn được đặt ra.

Một là, chuyển mạnh từ tư duy chạy theo tốc độ sang tăng trưởng có chất lượng, năng suất cao và bền vững. Các chỉ tiêu kinh tế cần được đặt trong mối quan hệ với môi trường, dịch vụ công, cơ hội việc làm, giáo dục, y tế và chất lượng sống.

Hai là, bảo đảm tính bao trùm của tăng trưởng. Mọi người dân cần có cơ hội tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển, đặc biệt là các nhóm yếu thế và khu vực còn nhiều khó khăn. Trong thời đại số, an sinh không chỉ là hỗ trợ thu nhập mà còn phải giúp người dân tiếp cận kỹ năng, tri thức và công nghệ.

Ba là, tạo cơ chế để khát vọng phát triển được chuyển hóa thành động lực đổi mới. Thể chế phải khuyến khích sáng tạo, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, đồng thời đề cao trách nhiệm và kỷ luật thực thi. Khát vọng quốc gia sẽ khó thành hiện thực nếu môi trường phát triển không tạo đủ không gian cho sáng kiến.

Bốn là, đầu tư cho con người phải được xem là đầu tư chiến lược. Trong dài hạn, lợi thế cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam không thể chỉ nằm ở chi phí thấp hay tài nguyên, mà phải ở chất lượng con người, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng làm chủ tri thức mới.

Bốn mươi năm đổi mới đã tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới. Càng tiến gần mục tiêu trở thành nước phát triển, yêu cầu càng cao: tăng trưởng phải đi cùng năng suất; thịnh vượng phải đi cùng công bằng; hội nhập phải đi cùng tự chủ; khát vọng phải được chuyển hóa thành năng lực thực thi.

Trong hệ quy chiếu đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế vì hạnh phúc nhân dân và khát vọng dân tộc vẫn mang giá trị định hướng rõ nét. Điểm cốt lõi không phải tìm kiếm một mô hình phát triển cố định từ quá khứ, mà là kiên định mục tiêu con người, phát huy nội lực dân tộc và không ngừng đổi mới phương thức phát triển.

Đến năm 2045, nếu Việt Nam hiện thực hóa được mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao, thước đo quan trọng không chỉ nằm ở vị trí trên bảng xếp hạng kinh tế thế giới. Một nền kinh tế mạnh chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân được sống tốt hơn, có cơ hội phát triển công bằng hơn, xã hội có niềm tin lớn hơn và khát vọng quốc gia trở thành động lực hành động của mỗi con người.

Đó cũng là cách làm cho di sản tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục sống động trong thực tiễn phát triển Việt Nam thế kỷ XXI.

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/tu-tang-truong-den-thinh-vuong-hanh-phuc.htm