Từ thí điểm ERPA đến hoàn thiện thể chế về dịch vụ hấp thụ và lưu trữ các bon của rừng
Thực tiễn triển khai ERPA tại Nghệ An không chỉ tạo thêm nguồn lực cho hàng vạn chủ rừng, cộng đồng tham gia bảo vệ rừng mà còn cung cấp những bài học quan trọng cho quá trình hoàn thiện thể chế, đưa dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng trở thành một phần của nền kinh tế xanh.
Từ cam kết quốc tế đến bước đi đầu tiên
Năm 2020 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hành trình Việt Nam tham gia sâu hơn vào nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính toàn cầu khi trở thành quốc gia đầu tiên tại khu vực Đông Á - Thái Bình Dương ký Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính (ERPA) với Quỹ Đối tác Các-bon trong lâm nghiệp của Ngân hàng Thế giới.
Theo thỏa thuận, Việt Nam chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ rừng tại 6 tỉnh Bắc Trung Bộ gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, nay thuộc địa bàn 5 tỉnh, thành phố sau sắp xếp đơn vị hành chính.

Chương trình ERPA hướng tới hài hòa mục tiêu giảm phát thải, bảo vệ rừng và nâng cao lợi ích cho cộng đồng sống dựa vào rừng.
Lần đầu tiên, khả năng hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng được nhìn nhận như một giá trị có thể lượng hóa, chuyển nhượng và tạo ra nguồn lực phục vụ cho công tác bảo vệ, phát triển rừng và sinh kế của người dân.
Để cụ thể hóa cam kết, Chính phủ ban hành Nghị định số 107/2022/NĐ-CP quy định về thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính ERPA vùng Bắc Trung Bộ.
Đây là văn bản pháp lý quy định trực tiếp về việc chuyển nhượng kết quả giảm phát thải từ rừng, xác định cơ chế chia sẻ lợi ích, quy trình tiếp nhận, quản lý nguồn thu từ tín chỉ các-bon.
Nguồn kinh phí được phân bổ cho nhiều nhóm hoạt động, từ công tác quản lý, hỗ trợ các hoạt động lâm nghiệp nhằm giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ rừng tự nhiên, thực hiện các biện pháp lâm sinh đến hỗ trợ phát triển sinh kế cho cộng đồng.
Từ đây, giá trị của rừng bắt đầu được nhìn nhận theo một cách rộng hơn. Không chỉ là gỗ, lâm sản hay độ che phủ, rừng còn mang trong mình một giá trị đặc biệt đối với cuộc chiến chống biến đổi khí hậu - đó là khả năng hấp thụ và lưu giữ các-bon.
Nghệ An và những bước đi từ thực tiễn
Trong 6 tỉnh tham gia thí điểm ERPA, Nghệ An là địa phương có diện tích rừng lớn, địa bàn rộng, nhiều khu vực rừng gắn chặt với đời sống và sinh kế của cộng đồng dân cư, đặc biệt là đồng bào ở khu vực miền núi.

Ông Nguyễn Văn Đệ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, chủ trì cuộc họp triển khai thực hiện ERPA trên địa bàn tỉnh.
Việc triển khai ERPA tại Nghệ An vì vậy mang ý nghĩa lớn hơn việc thực hiện một cơ chế tài chính mới. Đó còn là quá trình đưa một Chương trình lần đầu được áp dụng vào thực tiễn, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, ngành, địa phương và chủ rừng.
Ngay sau khi Nghị định số 107/2022/NĐ-CP có hiệu lực, UBND tỉnh Nghệ An đã kịp thời ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, đôn đốc triển khai.
Tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện ERPA trên địa bàn; phê duyệt kế hoạch tài chính tổng thể, danh sách đối tượng hưởng lợi và kế hoạch tài chính hằng năm; quy định mức khoán bảo vệ rừng, thời gian chi trả tiền ERPA cho các đối tượng hưởng lợi.
Cùng với đó, tỉnh giao nhiệm vụ cho lực lượng Kiểm lâm phối hợp, hỗ trợ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh trong quá trình triển khai. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị và địa phương từng bước được hình thành, tạo nền tảng để nguồn lực từ ERPA được quản lý, phân bổ và chi trả đúng đối tượng.
Từ những quy định trên giấy, ERPA dần trở thành nguồn lực hiện hữu trong công tác bảo vệ rừng.
Đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An đã chi trả hơn 351 tỷ đồng cho trên 34.000 chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư; 26 chủ rừng là tổ chức và 64 UBND cấp xã được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng.

Hội nghị tham vấn các bên liên quan về đánh giá kết quả chương trình thí điểm ERPA ở cấp xã.
Nguồn kinh phí này đồng thời hỗ trợ gần 1.000 lượt cộng đồng tham gia thỏa thuận quản lý, bảo vệ rừng với chủ rừng để thực hiện các mô hình sinh kế.
Những con số ấy cho thấy một thay đổi đáng chú ý: nguồn lực từ giá trị các-bon đang từng bước quay trở lại với những người trực tiếp giữ rừng.
Khi quyền lợi gắn với trách nhiệm, việc bảo vệ rừng không còn chỉ là yêu cầu về quản lý tài nguyên mà trở thành một phần trong bài toán sinh kế lâu dài của cộng đồng.
Bài học từ thí điểm và bước chuyển về thể chế
Thực tiễn triển khai ERPA tại Nghệ An và các tỉnh Bắc Trung Bộ đã đem lại những kinh nghiệm quan trọng trong việc xác định, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, chia sẻ lợi ích và quản lý nguồn thu từ các-bon rừng.
Làm thế nào để biến khả năng hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng thành một loại giá trị có thể xác định, quản lý và phân bổ lợi ích một cách minh bạch, hiệu quả.

Cơ chế chia sẻ lợi ích từ ERPA góp phần bảo đảm nguồn lực cho hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, đồng thời hỗ trợ cải thiện sinh kế cho cộng đồng.
Từ những bài học của giai đoạn thí điểm, Việt Nam tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý. Ngày 21/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng.
Nếu Nghị định số 107/2022/NĐ-CP là bước đi thí điểm đối với khu vực Bắc Trung Bộ thì Nghị định số 180/2026/NĐ-CP đánh dấu bước phát triển mới khi mở rộng phạm vi áp dụng trên toàn quốc.
Nghị định tạo cơ sở pháp lý cho việc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon của rừng; đồng thời quy định quyền, trách nhiệm của chủ rừng, cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường các-bon.
Đáng chú ý, quy định mới mở ra cơ chế để chủ rừng tham gia các dự án các-bon rừng, hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước để xây dựng, xác nhận và chuyển nhượng tín chỉ các-bon theo quy định của pháp luật.
Đây là bước tiến có ý nghĩa trong quá trình xác lập quyền và lợi ích gắn với kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng; qua đó mở rộng khả năng huy động nguồn lực xã hội cho bảo vệ và phát triển rừng.
Khi rừng trở thành một phần của nền kinh tế xanh
Nhìn từ Nghệ An, hành trình từ thí điểm ERPA đến hoàn thiện thể chế cho thấy giá trị của rừng đang được tiếp cận theo một tư duy mới.
Nếu trước đây hiệu quả của rừng thường được nhìn nhận qua diện tích, độ che phủ, sản lượng gỗ hay lâm sản thì nay khả năng hấp thụ và lưu giữ các-bon đang trở thành một giá trị ngày càng quan trọng.
Sự thay đổi này không làm mất đi những giá trị truyền thống của rừng, mà mở rộng thêm không gian phát triển cho kinh tế lâm nghiệp. Rừng vừa cung cấp lâm sản, vừa bảo vệ đất, nước, đa dạng sinh học, điều hòa khí hậu và đồng thời tạo ra giá trị từ các-bon.
Đặc biệt, khi giá trị này được chuyển hóa thành nguồn lực tài chính, những người trực tiếp quản lý, bảo vệ rừng có thêm điều kiện và động lực để gắn bó lâu dài với rừng.

Công trình làm đường bê tông nông thôn được hỗ trợ từ ERPA tại xã Kim Bảng.
Với Nghệ An, những kết quả đạt được từ quá trình thí điểm ERPA là kinh nghiệm thực tiễn quan trọng để địa phương tiếp tục tham gia vào quá trình phát triển thị trường các-bon và dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon của rừng.
Quan trọng hơn, từ những khoản chi trả cụ thể, nhận thức về trách nhiệm bảo vệ rừng cũng có thêm một nền tảng mới: giữ rừng không chỉ là giữ tài nguyên thiên nhiên cho hôm nay và mai sau, mà còn là tạo ra giá trị kinh tế từ chính những cánh rừng được bảo vệ.
Hành trình từ ERPA đến hoàn thiện thể chế về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng vì thế không chỉ là câu chuyện của một cơ chế tài chính.
Đó là bước chuyển trong tư duy phát triển lâm nghiệp, từ khai thác những giá trị hữu hình sang phát huy cả những giá trị vô hình mà rừng mang lại.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, những cánh rừng sẽ ngày càng giữ vai trò quan trọng hơn trong chiến lược tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Từ những bước đi đầu tiên tại Bắc Trung Bộ, trong đó có Nghệ An, một hướng đi mới đang được mở ra: giữ rừng không chỉ để bảo tồn màu xanh của đất nước, mà còn để tạo sinh kế, tạo giá trị và góp phần kiến tạo một nền kinh tế xanh, bền vững.

