Ưu tiên số hóa di tích, 'xóa mù' thông tin, kiến thức lịch sử cho thế hệ trẻ
Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa không chỉ giúp bảo tồn di sản mà còn mở ra cơ hội thu hẹp khoảng cách tiếp cận thông tin, đưa lịch sử và bản sắc văn hóa đến gần hơn với người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Với Bắc Ninh - vùng đất giàu truyền thống văn hiến, việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu di sản đang trở thành giải pháp quan trọng để giảm nghèo thông tin, tạo "đời sống mới" cho các giá trị văn hóa trên không gian số.
Không để di tích "phủ bụi", phai tàn theo thời gian
Là địa phương sở hữu hệ thống di tích, di sản thuộc nhóm phong phú nhất cả nước, Bắc Ninh xác định xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa số không chỉ là yêu cầu của chuyển đổi số mà còn là nền tảng để phát huy giá trị di sản trong giáo dục, du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa.
Giai đoạn 2020-2025, tỉnh đã đầu tư gần 50 tỷ đồng triển khai Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu di sản văn hóa, ứng dụng công nghệ GIS, cơ sở dữ liệu số và nhiều giải pháp hiện đại để chuẩn hóa, số hóa hồ sơ di tích, hiện vật và di sản văn hóa phi vật thể.
Tính đến tháng 6/2026, hơn 20 khu, điểm du lịch và di tích trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh mới đã được ứng dụng công nghệ tham quan thực tế ảo. Người dân và du khách có thể khám phá di sản từ xa thông qua hình ảnh 360 độ, mô hình 3D và hệ thống thuyết minh tự động.

Với phương châm "không để di tích "phủ bụi", phai tàn theo thời gian", Bắc Ninh đang đặt mục tiêu số hóa 100% di tích quốc gia đặc biệt, bảo vật quốc gia...
Nhiều địa danh tiêu biểu như đền Đô, đình Đình Bảng, chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp, lăng và đền thờ Kinh Dương Vương, chùa Bổ Đà, chùa Vĩnh Nghiêm, đền Xương Giang... đã trở thành những "điểm đến số", góp phần lan tỏa giá trị văn hóa Kinh Bắc đến đông đảo công chúng trong và ngoài nước.
Đặc biệt, dân ca quan họ Bắc Ninh - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại - được ưu tiên xây dựng kho dữ liệu số với hình ảnh, âm thanh, video và hệ thống tư liệu khoa học phong phú. Cùng với đó, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, hệ thống di tích thời Lý, các di tích gắn với con đường hoằng dương Phật pháp của Tam tổ Trúc Lâm, di tích Luy Lâu... cũng nằm trong nhóm di sản được ưu tiên số hóa.
Với phương châm "không để di tích "phủ bụi", phai tàn theo thời gian", theo Kế hoạch chuyển đổi số lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035, Bắc Ninh đặt mục tiêu số hóa 100% di tích quốc gia đặc biệt, bảo vật quốc gia, di sản văn hóa phi vật thể và di sản tư liệu thuộc Danh mục di sản quốc gia.
Tỉnh cũng sẽ từng bước số hóa dữ liệu về lễ hội truyền thống, nghệ thuật dân gian, văn hóa dân tộc thiểu số và các loại hình văn hóa đặc trưng; phấn đấu ít nhất 50% di tích trọng điểm có mô hình tham quan số 3D hoặc thực tế ảo, đồng thời hoàn thành số hóa toàn bộ hồ sơ khoa học của các di sản văn hóa phi vật thể đã được kiểm kê.
Theo các chuyên gia, chuyển đổi số di sản không chỉ dừng lại ở việc gắn mã QR tại các điểm di tích. Giá trị cốt lõi là hình thành một cơ sở dữ liệu thống nhất, liên thông và có khả năng cập nhật thường xuyên. Mỗi di tích, bảo vật hay di sản văn hóa phi vật thể cần có một "hồ sơ số" đầy đủ, bao gồm thông tin lịch sử, giá trị, hồ sơ pháp lý, hiện trạng, bản đồ vị trí, hình ảnh, dữ liệu 3D, quá trình tu bổ, lễ hội và hiện vật liên quan.
Quan điểm "xây dựng một lần, sử dụng nhiều lần" được Bắc Ninh xác định là nền tảng để hình thành hệ sinh thái văn hóa số phục vụ người dân, doanh nghiệp, phát triển công nghiệp văn hóa và hội nhập quốc tế.
Ưu tiên số hóa, "xóa mù" thông tin, kiến thức lịch sử cho thế hệ trẻ
Bắc Ninh tham vọng đến năm 2030, phấn đấu số hóa 100% di tích quốc gia đặc biệt, bảo vật quốc gia, di sản văn hóa phi vật thể và di sản tư liệu thuộc Danh mục di sản quốc gia; từng bước số hóa dữ liệu về lễ hội truyền thống, nghệ thuật dân gian, văn hóa dân tộc thiểu số và các loại hình văn hóa đặc trưng của tỉnh; phấn đấu ít nhất 50% di tích trọng điểm có mô hình tham quan số 3D hoặc thực tế ảo; hoàn thành số hóa toàn bộ hồ sơ khoa học của các di sản văn hóa phi vật thể đã được kiểm kê.
Điều đáng chú ý, khi dữ liệu được chuẩn hóa và chia sẻ trên môi trường số, di sản không còn chỉ hiện diện trong các bảo tàng hay hồ sơ lưu trữ mà trở thành nguồn tri thức mở, góp phần "xóa mù" lịch sử cho thế hệ trẻ và giúp người dân ở mọi nơi có cơ hội tiếp cận thông tin chính thống về văn hóa, lịch sử hào hùng của dân tộc nói chung, của đất Kinh Bắc nói riêng.
Trao đổi về công tác chuẩn hóa dữ liệu lần này (khi số lượng di tích của tỉnh Bắc Ninh mới sau khi sáp nhập với Bắc Giang là vô cùng lớn-NV), ông Nguyễn Hữu Phương, Trưởng phòng Quản lý Di sản, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh cho biết, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều thông tin về địa giới, tên đơn vị, cơ quan quản lý và hiện trạng di tích đã thay đổi. Vì vậy, việc rà soát, cập nhật và chuẩn hóa toàn bộ dữ liệu là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm mỗi di sản có một hồ sơ số đầy đủ, chính xác và thống nhất, tránh trùng lặp hoặc sai lệch thông tin.
Bộ cơ sở dữ liệu mới trở nên quan trọng khi Bắc Ninh hiện có gần 4.000 di tích, trong đó 1.455 di tích đã được xếp hạng, cùng hệ thống di sản văn hóa phi vật thể và nhiều bảo vật quốc gia có giá trị đặc biệt. Khối lượng dữ liệu lớn, đa dạng và liên tục phát sinh đòi hỏi phải được quản trị trên nền tảng số thay vì phương thức lưu trữ truyền thống.
Theo định hướng của UBND tỉnh Bắc Ninh, UBND cấp xã sẽ là đơn vị trực tiếp quản lý di tích trên địa bàn, chịu trách nhiệm cập nhật kịp thời các biến động về hiện trạng, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Trong khi đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện kiểm tra, chuẩn hóa, tích hợp và quản trị cơ sở dữ liệu cấp tỉnh, bảo đảm tính thống nhất và sẵn sàng kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa khi được triển khai.
Trên nền tảng dữ liệu hiện có, ngành Văn hóa Bắc Ninh sẽ tiếp tục rà soát, cập nhật hồ sơ đối với di tích, di sản văn hóa phi vật thể, bảo vật quốc gia, hiện vật, lễ hội, nghệ nhân và các tư liệu khoa học; từng bước hình thành kho dữ liệu số tập trung, trong đó mỗi di sản được quản lý bằng một mã định danh thống nhất, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, tra cứu và khai thác.
Bên cạnh hạ tầng công nghệ, Bắc Ninh cũng xác định yếu tố con người và thể chế giữ vai trò quyết định thành công của chuyển đổi số. Ngành Văn hóa tiếp tục tham mưu hoàn thiện cơ chế, chính sách và các quy định pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý di sản trong môi trường số; đồng thời nghiên cứu các mô hình giao nhiệm vụ, đặt hàng và hợp tác công - tư nhằm huy động nguồn lực xã hội phát triển công nghệ, công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa số.
Giai đoạn 2026-2030, cùng với việc mở rộng gắn mã QR tại các di tích, Bắc Ninh sẽ tập trung phát triển bản đồ di sản số, mô hình tham quan thực tế ảo, dữ liệu 3D, hệ thống thuyết minh tự động đa ngôn ngữ và các nền tảng truyền thông số sẽ tiếp tục được đẩy mạnh. Không chỉ giúp bảo tồn và quảng bá giá trị di sản, những giải pháp này còn góp phần giảm nghèo thông tin, đưa lịch sử, văn hóa Kinh Bắc đến gần hơn với thế hệ trẻ, tạo nền tảng để mỗi người dân trở thành chủ thể gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại số.












