Văn hóa Tây Nguyên như một tấm hoa văn đa sắc
Tây Nguyên, nơi quê hương ngàn đời của các tộc người bản địa, nay thêm rộn ràng hương sắc bởi cuộc tụ hội văn hóa nhiều miền. Từ những đợt di dân và chọn miền thượng du này làm quê hương mới, đồng bào từ nhiều vùng trong nước đã mang đến đây hồn cốt cố xứ và bản sắc văn hóa các tộc người. Những giá trị đó góp phần tô điểm đại ngàn hùng vĩ phía tây Tổ quốc thành tấm thổ cẩm hoa văn đa sắc.
Tây Nguyên, nơi quê hương ngàn đời của các tộc người bản địa, nay thêm rộn ràng hương sắc bởi cuộc tụ hội văn hóa nhiều miền. Từ những đợt di dân và chọn miền thượng du này làm quê hương mới, đồng bào từ nhiều vùng trong nước đã mang đến đây hồn cốt cố xứ và bản sắc văn hóa các tộc người. Những giá trị đó góp phần tô điểm đại ngàn hùng vĩ phía tây Tổ quốc thành tấm thổ cẩm hoa văn đa sắc.

Những đôi chân trần, tiếng chiêng hòa quyện cùng ngọn lửa
1. Có nhiều khi lang thang trên những cung đường đèo Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai nồng hương đất bazan, tôi như thấy núi rừng sáng lên bởi những nét thổ cẩm đến từ miền Tây Bắc. Dáng những người con trai Mông với dao phát trên tay và chiếc kềnh (khèn bầu làm từ 6 ống trúc) ngang lưng. Dáng những người con gái Mông với chiếc ô hoa trên đầu và váy áo rực lên những gam màu sặc sỡ, lấp lánh vô vàn bạc trắng, kim sa. Có nhiều khi dưới một triền thung lũng ngập tràn nắng gió bên dòng K’rông Ana hay dòng Đăk Bla, bỗng nghe điệu hát lượn slương cất lên giữa nương ngô xanh lá và thấp thoáng bóng áo bông nhuộm chàm của những cô gái Tày đến từ cực bắc Lạng Sơn. Có nhiều khi giữa phiên chợ Tùng Nghĩa của miền sơn nguyên Lâm Đồng chợt bắt gặp những nhóm trai gái Thái ríu ran trò chuyện bằng ngôn ngữ của dân tộc mình dù cha ông họ từ Cao - Bắc - Lạng đến đây lập cư từ hàng chục năm trước…

Đi, thấy và cảm nhận văn hóa Tây Nguyên đã đậm in những gam màu thơm hương tươi sắc từ nhiều miền quê, từ nhiều tộc người góp mặt. Tôi như nghe lời hát trường ca “Xống chụ xon xao” (Tiễn dặn người yêu, dân tộc Thái), “Te tấc te đác” (Đẻ đất đẻ nước, dân tộc Mường) quyện trong lời khan “Đam San”, “Xing Nhã” của đồng bào Tây Nguyên. Tôi như nghe văng vẳng tiếng khèn Mông hòa cùng giai điệu khèn M’bướt của người Cơ Ho; âm thanh cồng Mường hòa với tiếng chiêng núm, chiêng bằng của người Êđê, Bana, Churu; điệu xòe Tây Bắc nối nhịp bước chân cùng điệu xoang Tây Nguyên. Trong bữa liên hoan đoàn kết các buôn làng hôm nay, ngoài những món ăn truyền thống của người Kinh, rồi của đồng bào các dân tộc bản địa như xôi ống, thịt nướng, canh da trâu nấu với cà đắng, rau rừng và những chóe rượu cần thơm nức hương đại ngàn Tây Nguyên, đã có thêm những món ăn từ núi rừng biên cương phía bắc như thắng cố, cơm lam, chẩm chéo chấm với cá nướng và các loại rượu Sán Lùng, Mẫu Sơn, Bắc Hà hay rượu Cốc Ngù chôn trong hang đá…

Thào Hùng Khải bạn tôi, một cựu chiến binh người dân tộc Mông, đã dẫn người dân từ quê hương Nguyên Bình (Cao Bằng) của mình vào lập bản ở xã Bảo Lâm 3 (Lâm Đồng) gần 30 năm trước. Anh trở thành thủ lĩnh của bản Mông, xét trên nhiều nghĩa, trong đó có ý thức bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của ông bà. Ở bản của Khải, đồng bào vẫn sử dụng trang phục truyền thống, con gái vẫn biết hát dân ca và con trai vẫn thổi khèn lá, khèn bầu. Khải đã mời tôi về với bản anh và tham gia trò chơi ném pao trong lễ hội Gầu Tào giữa miền quê mới. Tôi cũng từng thưởng thức các nghệ nhân Câu lạc bộ hát then, đàn tính của đồng bào Thái, Tày, Nùng từ phía bắc di cư đến xã Cát Tiên 2 (Lâm Đồng) biểu diễn. Tôi cũng đã gặp bà Bạc Thị Hiến, người phụ nữ thường đánh trống trong các lễ hội ở bản Thái thuộc xã Đức Trọng, Lâm Đồng. Bà Hiến chính là người đã tham gia thành lập “Câu lạc bộ bản sắc văn hóa Thái” trên quê hương mới để những người đồng tộc cùng nhau sinh hoạt, trò chuyện bằng tiếng mẹ đẻ, cùng múa quạt, hát then, gảy đàn tính tẩu cho đỡ nỗi nhớ cố hương. Bà Hiến nói: “Những người lớn tuổi dạy con cháu gìn giữ văn hóa Thái không chỉ trong các lễ hội truyền thống mà bằng chính những sinh hoạt hằng ngày, bằng cử chỉ giao tiếp, lời nói, món ăn…”.

Vũ điệu Chăm

Sơn nữ Tây Nguyên
2. Từ sau ngày nước nhà thống nhất, cùng với đồng bào các dân tộc miền núi phía bắc, người dân từ các vùng đồng bằng Bắc Bộ và duyên hải miền Trung đã chọn Tây Nguyên làm quê hương thứ hai theo những làn sóng di cư, cả trong và ngoài kế hoạch. Họ đã “gánh cả tên xã, tên làng theo những cuộc di dân” (thơ Nguyễn Khoa Điềm), họ mang vào đất mới nền văn minh làng xã đồng bằng Bắc Bộ và văn hóa biển. Trên đất Tây Nguyên, nơi nào người dân từ các vùng miền trong nước về tụ cư tập trung thì nơi đó bản sắc văn hóa cố xứ hết sức đậm đà. Nó như những mạch nguồn âm ỉ trong dòng chảy đời sống hằng ngày của cư dân, cộng đồng. Mỗi khi có cơ hội thì dòng chảy ấy trào tuôn làm ấm thêm sắc màu quê mới. Nó thể hiện ở cách đặt tên làng, tên phố, bằng những bản “hương ước” kế thừa những mỹ tục, điều phải, lẽ hay từ quê cũ, làng xưa. Nó hiện hữu trong mỗi nét ăn, điều ở, lối sống, ứng xử và những biểu hiện hằng ngày. Những lời ca, điệu múa cổ truyền từ thuở ông bà vẫn được trao truyền, phát huy trong đời sống hôm nay.

Nghệ nhân người Mông truyền dạy âm nhạc cổ truyền cho các cháu nhỏ
3. Khi đã nhận thức đó là những vốn quý, trong nhiều năm qua, chính quyền và ngành văn hóa các địa phương đã triển khai rất nhiều chương trình nhằm phát huy bản sắc văn hóa các vùng miền trên đất Tây Nguyên. Chính cách làm đó đã tạo nên một không gian văn hóa đa dạng. Trên cái nền cốt cách đầy nội lực của văn hóa bản địa của các tộc người nói hai ngữ hệ Mon - Khmer và Malayo - Polynesia, sự góp mặt những sắc màu văn hóa của các tộc người anh em từ mọi miền Tổ quốc đến đây đã tạo những cung bậc cảm xúc mới, hòa điệu và hấp dẫn. Ở đâu đó giữa đại ngàn, cái nôi cồng chiêng, kể khan Tây Nguyên chợt da diết với lời hát then trong giai điệu đàn tính của người Tây Bắc. Ở đâu đó sau mùa thu hoạch cà phê người dân lại được sống cùng đêm chèo Bắc Bộ mát rượi như thưở xưa sân đình và liền chị, liền anh lúng liếng làn điệu quan họ Kinh Bắc trên miền quê mới. Xa biển lên rừng từ lâu nhưng người duyên hải nhớ về quê cũ vẫn không quên điệu hò bá trạo siêu linh trong lễ Cầu Ngư, câu lý giao duyên trữ tình hay lớp tuồng kể chuyện xưa tích cũ…

Niềm vui mùa cà phê bội thu

Những phụ nữ người dân tộc Cơ Ho trên cao nguyên Djiring - Lâm Đồng

Niềm vui được mùa

Những người trẻ tham gia ngày hội nơi buôn làng Cơ Ho dưới chân núi Lang Biang
Trên mảnh đất cao nguyên này, những lễ hội văn hóa của mỗi tộc người đã trở thành ngày hội chung của cả cộng đồng và ngày hội văn hóa chung đều có sự góp mặt những nét độc đáo riêng của các tộc người, các vùng miền anh em. Bởi lẽ, ở đâu có cộng đồng cư dân tập trung các tộc người, các vùng miền thì ở đó có nhu cầu thể hiện bản sắc và giao lưu văn hóa. Chính bản sắc độc đáo từ các vùng miền đã góp phần làm đẹp thêm, sinh động thêm, tạo nên sự đa dạng trong văn hóa cộng đồng và những nét tính cách của người Tây Nguyên hôm nay. Nét độc đáo của mỗi tộc người, mỗi vùng miền như những dòng suối nhỏ mát lành hòa vào dòng chảy văn hóa đại ngàn Tây Nguyên. Cái đẹp của văn hóa đã tạo nên sự xích lại gần nhau của các cộng đồng cư dân. Phát huy bản sắc các vùng miền, các tộc người đã tạo nên những sinh khí, những cố kết, những nền tảng nhân văn vững bền trên quê hương mới.

Nội dung, ảnh: Uông Thái Biểu
Trình bày: Hoàng Anh
Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/van-hoa-tay-nguyen-nhu-mot-tam-hoa-van-da-sac-455854.html












