Vết thời gian trên vạt áo

VHXQ - Trang phục, lối ăn mặc của cộng đồng dân cư xứ Quảng phản chiếu nét sinh hoạt xã hội và tự nhiên trong suốt lịch sử hình thành vùng đất. Qua trang phục, những “dấu vết” về sinh kế, nhịp sống, tầng lớp... cũng hiển hiện.

Trang phục của một nhóm cư dân ven biển Đà Nẵng năm 1892 . Ảnh: Camille Paris

Trang phục của một nhóm cư dân ven biển Đà Nẵng năm 1892 . Ảnh: Camille Paris

Ta trong mắt Tây

Những dòng ký sự của người phương Tây ít nhiều giúp lưu giữ nét sinh hoạt của cha ông trong quá khứ, ở phạm vi không gian của xứ Đàng Trong, hẹp hơn là xứ Quảng. Giữa thế kỷ 17, trong bản tường trình Xứ Đàng Trong năm 1621, giáo sĩ người Ý Cristophoro Borri đã mô tả rằng, thuở ấy xứ Đàng Trong tơ lụa thông dụng “đến nỗi ai cũng mặc hàng tơ lụa”. Phụ nữ mặc mớ bảy mớ ba, mặc chồng 5 - 6 lớp váy lụa trơn với màu sắc khác nhau, đàn ông khoác nhiều áo dài, rộng bằng lụa, được phối màu khéo léo. Riêng văn nhân, tiến sĩ ăn mặc trịnh trọng hơn, thường khoác áo dài đen bên ngoài và dùng thêm khăn lụa...

Lối ăn vận đó là của thành phần xã hội nào? Sau này, đối chiếu mô tả của C. Borri, nhà nghiên cứu Trần Văn An (Hội An) thấy có một số điểm tương đồng với tư liệu về y phục của người Minh Hương. Từ đó, ông dự đoán đấy là “y phục của tầng lớp thượng lưu giàu có và phổ biến ở khu vực phố thị”, những nơi C. Borri từng cư trú như phố Hội An, phố Quy Nhơn...

Tái hiện nét sinh hoạt dân gian hồi thế kỷ 19 bên sông Hoài (Hội An) với trang phục của người bình dân. Ảnh: THUẬN TRIỀU

Tái hiện nét sinh hoạt dân gian hồi thế kỷ 19 bên sông Hoài (Hội An) với trang phục của người bình dân. Ảnh: THUẬN TRIỀU

Sau C. Borri khoảng 170 năm, một người phương Tây khác - John Barrow - đến xứ Nam Hà, dừng ở Đà Nẵng và nhận ra y phục của người dân “không chỉ đã trải qua một cuộc biến cách, mà còn được rút bớt đi rất nhiều”. Lúc đó, người bản địa không xỏ những đôi giày nặng nề, không đi những đôi tất chần bông hoặc những đôi ủng sa tanh thô vụng, không mặc những váy chẽn nhồi bông. Y phục thông thường của giới nữ “không có gì là hấp dẫn”: chiếc áo vải bông dài lụng thụng, màu nâu hoặc xanh, buông rủ xuống tận giữa bắp đùi; chiếc quần đen bằng vải thô dày, may rất rộng. Tầng lớp trên được phân biệt với tầng lớp bình dân qua giày dép. Lễ phục mặc trong những dịp đặc biệt của một quý bà thường mang một lúc 3 - 4 chiếc áo, màu sắc, dài ngắn khác nhau.

Riêng bức tranh minh họa vẽ nhóm người Đàng Trong in kèm trong du ký Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792 - 1793) của J. Barrow cũng gây chú ý đối với nhà nghiên cứu Hồ Trung Tú, tác giả cuốn Có 500 năm như thế. Ông Hồ Trung Tú đoán định, theo phối cảnh bức tranh, có thể đó là một làng ở cửa Hàn, phía đông cầu Thuận Phước bây giờ, phía xa là núi Hải Vân, bên phải là Sơn Trà. Chiếc váy nhiều tầng của người phụ nữ đứng bên trái cũng khiến ông nghĩ đến những mô tả trước đó của C. Borri, thậm chí xa hơn, về chiếc váy Chiêm mà Dương Văn An từng đề cập trong Ô Châu cận lục hồi giữa cuối thế kỷ 16. Với 6 người đàn ông trong tranh, có 3 người vận y phục Việt có địa vị sang trọng hơn (áo cài nút chéo vai, đội nón hoặc cầm dù, đeo túi hoặc thẻ bài) so với những người còn lại.

Trang phục của một nhóm cư dân bên vịnh Đà Nẵng thế kỷ 18. Ảnh: William Alexander

Trang phục của một nhóm cư dân bên vịnh Đà Nẵng thế kỷ 18. Ảnh: William Alexander

Đổi thay và phân hóa

Giới nghiên cứu cho rằng, khi bàn tới trang phục, người ta thường nghĩ tới chất liệu, cách thức may cắt, việc sử dụng (để giữ ấm hay làm mát, chống lại côn trùng) và sự liên quan mật thiết tới môi trường tự nhiên, trình độ phát triển xã hội của mỗi cộng đồng người. Trong không gian văn hóa và sinh hoạt của xứ Quảng, dấu ấn tầng lớp, sinh kế và hơi thở vùng đất thể hiện qua trang phục càng rõ, với sự khác biệt giữa quần áo đi ra ngoài và quần áo mặc ở nhà, giữa trang phục đi làm đồng với trang phục đi lễ hội.

“Buổi đầu di dân vào đây, người dân đã mang theo cách ăn mặc từ quê cha đất tổ. Sau một thời gian, do cùng sống với người Chăm, Hoa, Nhật..., người dân ở Quảng Nam đã bị ảnh hưởng ít nhiều cách ăn mặc của các tộc người này”. Phần khảo cứu về phong tục tập quán trong y phục trang sức (Phong tục - Tập quán - Lễ hội Quảng Nam, Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Nam ấn hành năm 2004) có đoạn nhận xét như vậy.

Cũng theo công trình nghiên cứu này, trang phục thường ngày của người dân xứ Quảng được may đơn giản, không cầu kỳ. Trong các dịp tế lễ, giỗ chạp, đàn ông mặc áo dài đen, quần lụa trắng, đầu đội khăn nhiễu đen, tay cầm dù đen; đàn bà mặc áo lụa màu hay lãnh đen, quần đen, chân đi guốc, đầu bịt khăn vuông gấp chéo, đội nón lá...

Người đàn ông mặc áo tơi năm 1919. Ảnh: René Tétart

Người đàn ông mặc áo tơi năm 1919. Ảnh: René Tétart

Trước đây, người dân Quảng Nam cũ dùng nón lá để che mưa, che nắng khi đi làm hay khi đi chơi. Mũ và dù chỉ mới xuất hiện từ thời Pháp thuộc và chỉ có ở những gia đình khá giả, tân học. Quan lại và những người giàu có thì đi giày hạ, còn những người dân thường đi guốc hoặc chân không, người nghèo khổ dùng mo nang làm dép... Trang phục của đồng bào các tộc người thiểu số cũng hé lộ “dấu vết” của tập tục, sinh kế. Chiếc khố của người đàn ông thể hiện rõ nhất cách ứng xử, ăn mặc của vùng đất cần đến sự tiện lợi trong việc săn bắn, đi rừng, làm rẫy, chặt cây, đánh cá...

Một loại trang phục khác cũng gợi lên sự thay đổi và sự khác biệt lớn về sinh hoạt dân gian, về nghề nghiệp, chính là chiếc áo tơi. Áo tơi được kết bằng lá tơi, may thành áo, dài phủ quá đầu gối. Nhà nông thuở trước ra đồng mùa đông không thể thiếu áo tơi, vì rất kín gió, không ướt nên vừa che mưa vừa thay thế áo ấm. Giờ thì áo tơi đã tuyệt tích.

Trang phục luôn biến đổi qua mỗi thời kỳ để phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và thị hiếu thẩm mỹ. Ngày nay, trong các dịp lễ hội, đình đám, phần đông cư dân Quảng Nam - Đà Nẵng không còn mặc áo dài, khăn đóng như trước, thay vào đó là trang phục hiện đại, tiện dụng hơn. Việc nhìn nhận lại sự biến đổi của y phục xứ Quảng qua các thời kỳ không chỉ giúp nhận diện những chuyển biến trong nếp sống và quan niệm thẩm mỹ của cư dân, mà còn góp phần trân trọng, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống đương đại.

THUẬN TRIỀU

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/vet-thoi-gian-tren-vat-ao-3357096.html