Vía - Tín ngưỡng dân gian trong thơ phạm tiến triều

Trong nền thơ Việt Nam hiện đại, đặc biệt là mảng thơ các dân tộc thiểu số, Phạm Tiến Triều là giọng thơ có bản sắc riêng, mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc Mường. Thơ anh được hình thành từ nền tảng vững chắc của văn hóa bản địa, thấm đẫm hơi thở của một không gian văn hóa với phong tục, tập quán, tín ngưỡng. Và, một trong những tín ngưỡng phổ biến của người Mường được phản ánh trong thơ anh là tín ngưỡng gọi vía/buộc vía.

Ảnh: Bảo Anh

Ảnh: Bảo Anh

Biểu tượng cho thế giới tâm linh và tập tục truyền thống

Theo quan niệm dân gian của người Mường, vía là phần hồn gắn liền với con người và cần được giữ gìn để tránh những điều không may. Quan niệm này được Phạm Tiến Triều thể hiện rõ trong bài thơ

Mời em:

“Mẹ anh sẽ buộc chỉ cổ tay

giữ vía em bên cầu thang chín bậc

giữ hồn em vương vấn ở

quanh mường”

Tục buộc chỉ cổ tay là một nghi thức tâm linh quen thuộc, thể hiện mong muốn giữ lại may mắn và bảo vệ linh hồn con người. Khi đưa chi tiết này vào thơ, Phạm Tiến Triều đã tái hiện một nét tín ngưỡng đặc trưng của cộng đồng người Mường, một phong tục quen thuộc trong văn hóa Mường (cũng có ở nhiều tộc người Đông Nam Á). Tục buộc chỉ cổ tay (còn gọi là lễ “buộc vía”, “làm vía”, “giữ vía”) là một nghi lễ tâm linh truyền thống tốt đẹp mang ý nghĩa cầu bình an, sức khỏe và may mắn. Người được buộc chỉ thường sẽ giữ sợi chỉ đó trên tay cho đến khi nó tự đứt hoặc rụng đi, không được tự ý cắt bỏ để bảo toàn sự may mắn. Người Mường tin rằng sợi chỉ nhỏ bé mà bền chắc ấy là “sợi dây” vô hình giữ cho vía không rời khỏi thân thể, giữ cho con người luôn được chở che.

Cùng viết về nét văn hóa này, trong bài Lạc vía, tín ngưỡng chuyển hóa thành lời dặn dò, nhắc nhở thường trực:

“Ngày con đi

mẹ dặn con giữ vía cho chắc

bố bảo con cầm vía cho bền

đừng lạc theo người mường lạ”

Lời dặn của cha mẹ không chỉ là niềm tin mà còn là ý thức chung của cả gia đình và cộng đồng. Tín ngưỡng về vía vì thế được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một dạng “gia tài tinh thần”, ăn sâu vào nếp nghĩ, nếp sống của người Mường. Câu thơ “đừng lạc theo người mường lạ” mở rộng ý nghĩa từ phạm vi tâm linh sang bình diện văn hóa - xã hội. “Người mường lạ” không chỉ là người xa lạ về không gian địa lí mà còn hàm ý về những môi trường khác biệt, có thể làm con người đánh mất bản sắc, xa rời cội nguồn. Việc “giữ vía” không chỉ là giữ linh hồn theo nghĩa tâm linh, mà còn là giữ mình trước những biến động của đời sống, giữ sự gắn bó với bản mường và truyền thống.

Biểu tượng của sự gắn kết thiêng liêng trong tình yêu đôi lứa

Trong thơ Phạm Tiến Triều, “vía” chính là biểu tượng độc đáo và sâu sắc nhất cho tình yêu đôi lứa. Vía không phải là thứ hữu hình nhưng lại có sức mạnh, có khả năng gắn kết thiêng liêng. Vía chứng giám, cũng là bảo chứng cho tình yêu, từ khi con tim đôi lứa bắt đầu rung động. Trong bài Nghĩa Lộ em, nhà thơ viết:

“Ai đã trói hồn ta ở phía suối Đôi

ai đã buộc vía ta ở bên dốc Đỏ

để hồn ta say

để vía ta lạc”

Nếu trong quan niệm dân gian, “lạc vía” thường gắn với trạng thái hoang mang, bất ổn về tinh thần nhưng trong thơ Phạm Tiến Triều lại đem đến một sắc thái khác: “lạc vía” trong tình yêu. Vía không mất đi trong sợ hãi mà tan vào cảm xúc say mê, đắm đuối. Hình ảnh “suối Đôi”, “dốc Đỏ” không chỉ là những địa danh cụ thể mà còn trở thành những điểm neo giữ ký ức và cảm xúc của nhân vật trữ tình. Nhà thơ đã rất tinh tế khi dùng quan niệm dân gian về vía để diễn tả một trạng thái tâm lý khó nắm bắt: con người dường như không còn thuộc về chính mình khi trái tim đã bị buộc chặt vào một miền thương nhớ.

Khi trai gái yêu nhau, vía của họ quấn quýt, hòa quyện và gắn bó chặt chẽ với nhau, minh chứng cho sự thủy chung. Hành động “buộc vía” cho nhau thể hiện khát vọng gắn kết bền chặt và lòng thủy chung son sắt của các cặp vợ chồng, đôi lứa.

“Mẹ anh sẽ buộc chỉ cổ tay

giữ vía em bên cầu thang

chín bậc”

(Mời em)

Vía lúc này là bảo chứng của tình yêu. Từ những rung động lạc nhịp của con tim, đến lời ước hẹn chân thành, khát vọng gắn kết bền chặt và mong muốn chở che, níu giữ trái tim người mình yêu, vía trở thành biểu tượng của tình yêu trong thơ Phạm Tiến Triều. Ở một ý thơ khác, nhà thơ mượn lá làm bùa, nhờ cậy sức mạnh của thiên nhiên làm vật thiêng để giữ vía, giữ hồn, cũng là giữ tình yêu bền chặt của đôi lứa: “Lá giữ vía em không đi lạc mường” (Bùa lá). “Giữ vía” trong trường hợp này không chỉ mang ý nghĩa bảo vệ trạng thái tinh thần của cá nhân mà còn mở rộng sang việc gìn giữ mối quan hệ lứa đôi. Tình yêu vì thế không hoàn toàn thuộc về ý chí chủ quan mà còn cần đến sự “phù trợ” từ những yếu tố thiêng liêng. Trong tư duy văn hóa của người Mường, hạnh phúc cá nhân luôn đặt trong mối liên hệ với các lực lượng vô hình và môi trường tự nhiên xung quanh. Vì thế, trong thơ Phạm Tiến Triều, không khó để người đọc nhận ra vía hiện lên như một biểu tượng tinh thần cao đẹp, giữ được vía bên mình là giữ cho tình yêu vững bền trước những bộn bề phức tạp của cuộc sống.

Biểu tượng của niềm tin và ý thức cội nguồn

Trong thơ Phạm Tiến Triều, “vía” không chỉ là một yếu tố tín ngưỡng dân gian mà đã trở thành một biểu tượng văn hóa mang chiều sâu tâm linh của người Mường - niềm tin và cả ý thức văn hóa cội nguồn. Quan niệm về vía vốn bắt nguồn từ niềm tin truyền thống cho rằng con người luôn tồn tại phần hồn gắn liền với sức khỏe, tinh thần và sự bình an của đời sống. Khi vía bị “lạc”, con người sẽ trở nên bất an, mất cân bằng, thậm chí đánh mất sự kết nối với cộng đồng và cội nguồn. Chính vì vậy, trong thơ Phạm Tiến Triều, “vía” không đơn thuần xuất hiện như một chất liệu phong tục mà đã được nâng lên thành một hình tượng nghệ thuật giàu sức gợi. Bạn đọc sẽ rất ấn tượng với những câu thơ rất hồn nhiên trong bài thơ Gọi vía:

“Về đi thôi vía à

về nhà thôi vía hỡi

sao vía cứ lang thang mường lạ

theo chân gái đẹp mường người”

Ở đây “vía” được nhân hóa như một thực thể có cảm xúc, có thể “lang thang”, “lạc bước” trước những hấp dẫn của thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, đằng sau lời gọi vía là nỗi lo âu của con người trước nguy cơ đánh mất chính mình giữa không gian xa lạ. Khi vía “theo chân gái đẹp mường người”, đó không chỉ là trạng thái say mê nhất thời mà còn hàm ý sự lung lay của những giá trị bền vững vốn gắn với mái sàn, bếp lửa và gia đình. Bởi vậy, lời gọi: “Về mái sàn mình thôi/ bếp đã bung đỏ lửa/ sàn còn thiếu hơi người” chính là lời nhắn nhủ con người hãy sống, hãy luôn giữ những giá trị văn hóa đã nuôi dưỡng tâm hồn mình. Qua hình ảnh ấy, Phạm Tiến Triều đã nâng vía vượt khỏi ý nghĩa tâm linh thông thường để trở thành biểu tượng cho căn tính văn hóa và nỗi khắc khoải hướng về quê hương, cội nguồn. Lạc vía hay mất vía, cái mất hay cái lạc đó không đơn thuần là một di tích hay một phong tục, tín ngưỡng mà là sự phai nhạt của cả một hệ giá trị văn hóa tâm linh gắn với văn hóa truyền thống. Nhà thơ không chỉ tái hiện tín ngưỡng dân gian mà còn bộc lộ rõ ý thức bảo tồn văn hóa. Nỗi tiếc nuối ở đây không mang tính cá nhân đơn lẻ mà mang ý nghĩa rộng hơn, đó là sự trăn trở trước nguy cơ mai một của bản sắc truyền thống trong bối cảnh hiện đại hóa. Chính sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại đã làm nổi bật thông điệp: cần gìn giữ những giá trị văn hóa tín ngưỡng như một phần không thể tách rời của căn tính cộng đồng.

Có thể thấy, trong thơ Phạm Tiến Triều, “vía” không còn là một khái niệm tín ngưỡng đơn thuần mà đã trở thành một hình tượng văn hóa giàu sức biểu đạt. Chính điều này đã làm nên chiều sâu văn hóa trong thơ Phạm Tiến Triều, đồng thời khẳng định ý thức gìn giữ và bảo tồn bản sắc Mường trong thơ ca đương đại.

Trần Quang Huy (CTV)

Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/via-tin-nguong-dan-gian-trong-tho-nbsp-pham-tien-trieu-43810.htm