Xanh hóa làng nghề: Hài hòa sinh kế và môi trường
Ô nhiễm môi trường làng nghề đã được cảnh báo từ hàng chục năm qua, song vẫn dai dẳng do hoạt động sản xuất gắn chặt với sinh kế, không gian cư trú và tập quán của cộng đồng. Để giải quyết căn cơ, cần phân loại từng nhóm ngành nghề, đổi mới công nghệ, đầu tư hạ tầng xử lý chất thải đồng bộ và xây dựng cơ chế hỗ trợ phù hợp với khả năng của các cơ sở sản xuất.

Việc chuyển đổi từ lò than thủ công sang lò nung sử dụng khí gas đã góp phần bảo vệ môi trường tại Làng gốm Bát Tràng. Ảnh: Chu Khôi.
Phân loại đúng để xử lý trúng vấn đề
Tại nhiều địa phương, hoạt động sản xuất truyền thống vẫn đan xen với không gian sinh hoạt của người dân. Sự gắn kết này tạo nên bản sắc riêng của làng nghề, đồng thời khiến công tác kiểm soát ô nhiễm trở nên phức tạp. Từ khói bụi, khí thải đến nước thải và chất thải rắn, những tác động môi trường không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, chất lượng sống mà còn đe dọa triển vọng phát triển lâu dài của chính các làng nghề.
Theo TS Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Hội Không khí sạch Việt Nam, giải quyết xung đột giữa không gian sản xuất và khu dân cư không thể áp dụng một công thức cơ học theo hướng cứ ô nhiễm là đưa vào cụm công nghiệp. Bởi ô nhiễm làng nghề là bài toán phức tạp, đan xen giữa không gian phát triển, sinh kế người dân và các thiết chế văn hóa làng xã.
Thực tế, nhiều cơ sở sản xuất ban đầu chỉ hoạt động với quy mô hộ gia đình trong ngõ xóm, sau đó tự phát cơi nới, mở rộng theo nhu cầu thị trường. Cùng với sự thay đổi về nguyên liệu, công nghệ và quy trình sản xuất, tính chất cũng như mức độ phát sinh chất ô nhiễm liên tục biến đổi. Trong khi đó, hạ tầng kỹ thuật tại nhiều khu dân cư chưa được thiết kế để đáp ứng yêu cầu xử lý chất thải của hoạt động sản xuất.
Từ thực tế này, TS Hoàng Dương Tùng cho rằng, giải pháp quan trọng trước tiên là phân loại rõ từng nhóm làng nghề để có phương án xử lý phù hợp.
Đối với các làng nghề thủ công, mỹ nghệ truyền thống, nơi hoạt động sản xuất gắn với không gian văn hóa và sinh kế của nhiều thế hệ, cần ưu tiên cải tạo hạ tầng tại chỗ, chuyển giao công nghệ sản xuất sạch hơn, hỗ trợ xử lý nước thải và khí thải cục bộ. Cách tiếp cận này giúp người dân tiếp tục duy trì nghề truyền thống, đồng thời từng bước giảm tác động tiêu cực đến môi trường.
Ngược lại, với những ngành nghề có nguy cơ phát thải độc hại cao như tái chế phế liệu nhựa, kim loại, nấu đúc và sản xuất hóa chất tự phát, việc di dời đến địa điểm có quy hoạch và hạ tầng kỹ thuật phù hợp là yêu cầu cần được xem xét nghiêm túc.
Tuy nhiên, theo TS Hoàng Dương Tùng, thách thức không chỉ nằm ở quỹ đất và nguồn vốn để di dời, mà còn ở chất lượng hạ tầng của các cụm công nghiệp tiếp nhận. “Nếu di dời cơ sở sản xuất ra một khu vực mới mà hạ tầng gom - xử lý nước thải, khí thải và chất thải rắn không được đầu tư đồng bộ, đạt chuẩn, thì chúng ta chỉ đang làm một việc vô nghĩa là dịch chuyển điểm ô nhiễm từ nơi này sang nơi khác” - TS Hoàng Dương Tùng nhấn mạnh.
Đổi mới công nghệ, đưa sản xuất sạch hơn vào từng cơ sở
Bên cạnh quy hoạch không gian sản xuất và đầu tư hạ tầng xử lý chất thải, các chuyên gia cho rằng, kiểm soát ô nhiễm cần bắt đầu ngay từ quy trình sản xuất. Nếu chỉ tập trung xử lý chất thải sau khi phát sinh, các cơ sở sẽ phải đối mặt với chi phí đầu tư, vận hành lớn, trong khi nguy cơ ô nhiễm vẫn tồn tại nếu hệ thống không được duy trì thường xuyên.
Theo GS.TS Đặng Kim Chi, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, bài toán môi trường làng nghề tại Việt Nam hoàn toàn có thể giải quyết được. Hơn 25 năm qua, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cấp tỉnh cùng các luận án tiến sĩ, thạc sĩ đã tập trung tìm kiếm giải pháp cải thiện môi trường làng nghề. Từ thực tiễn nghiên cứu, GS.TS Đặng Kim Chi và các đồng nghiệp đã xây dựng bộ tài liệu gồm 7 cuốn hướng dẫn giải pháp môi trường cho từng nhóm ngành nghề, từ chế biến nông sản, thực phẩm, dệt nhuộm đến gốm sứ, mỹ nghệ và tái chế kim loại.
Một trong những hướng tiếp cận được ưu tiên là sản xuất sạch hơn, tức chủ động giảm tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu, hạn chế phát sinh chất ô nhiễm ngay từ đầu quy trình. Thay vì chỉ đầu tư hệ thống xử lý ở công đoạn cuối, cơ sở sản xuất cần từng bước thay đổi công nghệ, lựa chọn nguyên liệu phù hợp và tổ chức lại hoạt động sản xuất để giảm chất thải ngay tại nguồn.
Thực tiễn tại làng gốm Bát Tràng là minh chứng đáng chú ý. Việc chuyển đổi từ lò than thủ công sang lò nung sử dụng khí gas đã góp phần chấm dứt tình trạng khói bụi đen bao phủ khu dân cư trong thời gian dài. Kinh nghiệm này tiếp tục được lan tỏa đến làng gốm Kim Lan lân cận, cho thấy đổi mới công nghệ có thể đồng thời cải thiện điều kiện môi trường và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Ở các làng nghề sơn mài, việc chuyển sang sử dụng những dòng sơn thân thiện với môi trường giúp hạn chế phát tán hơi dung môi độc hại. Trong lĩnh vực cơ khí, kim khí, lựa chọn dung dịch tẩy rửa phù hợp cũng góp phần giảm nguy cơ phát sinh chất ô nhiễm trong quá trình sản xuất.
Từ những mô hình này, có thể thấy, xanh hóa làng nghề không đơn thuần là lắp đặt hệ thống xử lý nước thải, khí thải, mà cần được triển khai xuyên suốt chuỗi sản xuất. Từ lựa chọn nguyên liệu, sử dụng năng lượng, thiết kế sản phẩm, tận dụng phế phụ phẩm đến đóng gói, phân phối và tiêu thụ đều có thể trở thành những khâu cần đổi mới theo hướng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải.
Theo GS.TS Đặng Kim Chi bên cạnh nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp về vốn, tín dụng, tư vấn kỹ thuật và đào tạo nhân lực. Các giải pháp nên được thiết kế theo quy mô sản xuất, tính chất chất thải và điều kiện kinh tế của từng nhóm ngành nghề. Với những cơ sở chưa đủ khả năng đầu tư riêng lẻ, có thể nghiên cứu mô hình dùng chung hệ thống xử lý hoặc tổ chức thu gom, xử lý tập trung theo quy định.
Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/xanh-hoa-lang-nghe-hai-hoa-sinh-ke-va-moi-truong.html
