Xứ Quảng - vùng đất phong phú lễ hội

Xứ Quảng - từ dấu mốc mở cõi năm 1471 - trên nền hệ sinh thái đa dạng từ đại ngàn phía tây đến đồng bằng, duyên hải và biển đảo, đã định hình một đời sống lễ hội phong phú. Và nếu phải chọn một thời điểm mà tinh thần lễ hội kết tinh rõ nét nhất, thì đó chính là mùa xuân.

Lễ hội đầu xuân trên sông Thu Bồn. Ảnh: Võ Thịnh

Lễ hội đầu xuân trên sông Thu Bồn. Ảnh: Võ Thịnh

Mùa xuân ở xứ Quảng không chỉ là sự chuyển mùa của đất trời, mà là sự khởi động của ký ức cộng đồng. Những nghi lễ, hội hè nối tiếp nhau từ sau Tết Nguyên đán đến hết tháng Ba âm lịch, tạo thành chuỗi sinh hoạt văn hóa đậm đặc, nơi quá khứ và hiện tại gặp nhau trong không gian thiêng.

Lễ hội vùng đất nông nghiệp

Dưới góc độ loại hình, có thể nói xứ Quảng là vùng đất phong phú lễ hội. Phổ biến nhất là lễ hội mang tính chất nông nghiệp gắn với cộng đồng cư dân sản xuất cây lúa, bao gồm người Kinh ở vùng đồng bằng chuyên làm cây lúa nước và các dân tộc ít người ở miền núi canh tác lúa rẫy.

Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc sâu sắc vào điều kiện tự nhiên như khí hậu, thời tiết, đất đai. Rất nhiều yếu tố tự nhiên tác động đến quá trình, kết quả sản xuất vụ mùa, do đó đã hình thành nên tập quán thờ cúng trời, đất cùng các vị thần bảo trợ cho nghề nông.

Từ những nghi lễ cầu cúng theo mùa vụ ấy, ở một số địa phương xứ Quảng đã hình thành nên những lễ hội nông nghiệp quy mô được nhiều nơi biết đến như lễ hội Rước mục đồng làng Phong Lệ, lễ hội Bà Chiêm Sơn, lễ hội bắp nếp Cẩm Nam.

Đối với người dân làng rau Trà Quế nổi tiếng, lễ hội Cầu bông diễn ra vào ngày mùng Bảy tháng Giêng âm lịch luôn là sự kiện được họ chú trọng.

Đối với đồng bào thiểu số ở miền núi như Xê Đăng, Cơ Tu, Ca Dong, Co… cây lúa rẫy bao đời nay là nguồn sống chính của họ. Vì vậy một loạt các lễ thức nông nghiệp đã hình thành và rất được coi trọng gắn với quy trình canh tác cây lương thực này. Một lễ hội lớn nhất trong năm được tổ chức khi vụ thu hoạch đã xong, lúa chất đầy kho. Đó là lễ hội mừng lúa mới.

Hội làng bên sông. Ảnh: NGÔ HÒA

Hội làng bên sông. Ảnh: NGÔ HÒA

Tùy mỗi tộc người, cách thức, nội dung lễ hội có những khác biệt nhất định nhưng đều hướng đến sự tạ ơn Mẹ Thiên Nhiên quy tụ cộng đồng làng.

Lý giải điều này, nhà nghiên cứu Phùng Tấn Đông, trú phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng cho rằng, thiên nhiên hào phóng nhưng cũng đầy trở lực khiến người vùng cao vừa khai thác tự nhiên để sinh tồn, vừa tôn thờ, ngưỡng vọng trời đất cùng các đấng thần linh như là những thế lực có sức mạnh siêu phàm. Các lễ hội như mừng lúa mới, cúng máng nước, tạ thần rừng thể hiện mạnh mẽ sâu sắc đời sống tâm linh của người luôn chống chọi để sinh tồn giữa thiên nhiên hoang dã.

Ở một số nơi, bắt nguồn từ việc khai thác sản vật của rừng để sinh sống, các cộng đồng dân cư đã hình thành nên những lễ hội mang tính chất lâm nghiệp, tiêu biểu lễ hội Khai sơn ở làng Nghi Sơn, nay thuộc xã Quế Sơn Trung; lễ hội tạ ơn rừng của đồng bào Cơ Tu ….

Vùng Tiên Thọ xã Thạnh Bình ngày trước cũng rất nổi tiếng với lễ hội vây cọp…

Vùng duyên hải xứ Quảng với bờ biển dài từ xa xưa hình thành nên những làng chài sống bằng nghề đánh bắt trên biển. Từ tục thờ cá Ông - được gọi một cách tôn kính là thần Nam Hải, lễ hội Nghinh Ông đã ra đời gắn với loại hình diễn xướng hát bả trạo rất độc đáo và mang đậm tính chất nghề nghiệp.

Thờ cúng tổ nghề từ lâu đã là tập tục của các làng nghề trên cả nước. Thần chủ là vị thần Bách nghệ tiên sư đã có công truyền dạy trăm nghề cho người dân sinh sống làm ăn. Ở xứ Quảng, cùng với sự ra đời và phát triển các làng nghề nổi tiếng như gốm Thanh Hà, mộc Kim Bồng, đúc Phước Kiều… cộng đồng cư dân làng nghề đều tổ chức lễ hội vào mùa xuân, cầu mong một năm làm nghề nhiều thành quả.

Lễ hội của cộng đồng làng xã

Trong kho tàng lễ hội xứ Quảng, có hai lễ hội quy mô lớn tổ chức vào mùa xuân, thu hút sự tham gia mạnh mẽ của cộng đồng cư dân địa phương và thập khách xa gần. Đó là lễ hội Bà Chợ Được và lễ hội Bà Thu Bồn. Đây là những lễ hội mang tính chất tôn giáo tín ngưỡng khá đậm nét.

Lễ hội khai năm tạ ơn rừng người Cơ Tu Tây Giang. Ảnh: Pơloong Plênh

Lễ hội khai năm tạ ơn rừng người Cơ Tu Tây Giang. Ảnh: Pơloong Plênh

Thuộc loại hình lễ hội này còn có lễ hội Bà Phường Chào ở xã Vu Gia, thành phố Đà Nẵng. Một số nhà nghiên cứu cho rằng các lễ hội nêu trên thuộc tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, có dung hợp với tục thờ Mẹ xứ sở của người Chăm. Do vậy, sắc thái lễ hội khá độc đáo và cuốn hút.

Gắn với việc tôn thờ các vị tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai canh là lễ cúng tế những người có công khai phá, tạo lập cơ trạch cho con cháu đời sau. Từ phong tục phổ biến này, một số địa phương đã nâng lên thành lễ hội lớn của vùng, tiêu biểu như lễ hội Thanh minh ở Gò Nổi, lễ hội Ngũ xã Trà Kiệu, lễ hội đình Hội An ở xã Tiên Phước…

Là một bộ phận của nền văn hóa các dân tộc Việt Nam thống nhất trong đa dạng, lễ hội xứ Quảng vừa mang những đặc điểm, nội dung phổ quát, vừa có những nét riêng của văn hóa địa phương, vùng miền, tạo nên sự phong phú, độc đáo.

Hội làng truyền thống ở Duy Xuyên. Ảnh: MAI NHI

Hội làng truyền thống ở Duy Xuyên. Ảnh: MAI NHI

Dù là lễ hội nông nghiệp hay các lễ hội của làng nghề thì tính chất làng xã vẫn rõ nét. Các lễ hội ấy là những giá trị văn hóa lâu đời được hun đúc, thử thách qua quá trình sinh sống lâu đời của cư dân.

Các lễ hội xứ Quảng phản ánh quá trình hình thành, phát triển và thích nghi của cộng đồng dân cư với những điều kiện tự nhiên, xã hội, tiến trình lịch sử tại địa phương. Lễ hội xứ Quảng còn có sự kết hợp, đan xen, giao lưu với các phong tục tập quán lễ hội của các cộng đồng dân cư trên địa bàn trong suốt tiến trình lịch sử.

Trải qua nhiều thăng trầm, lễ hội ở xứ Quảng vẫn là dòng chảy bền bỉ từ mạch nguồn sâu thẳm và linh thiêng của xứ sở, trở thành hành trang thiết yếu và quý giá cho con người trên hành trình tồn sinh...

DUY HIỂN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/xu-quang-vung-dat-phong-phu-le-hoi-3325988.html