Xuất khẩu rau quả sang EU: Nâng chuẩn để giữ thị trường
Liên tiếp những năm gần đây, EU là một trong những thị trường tăng trưởng nhanh của rau quả Việt Nam. Tuy nhiên, để xuất khẩu rau quả bền vững sang thị trường này, đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng tiêu chuẩn khắt khe và đẩy mạnh chế biến sâu.
Nhiều mặt hàng tăng trưởng đột biến
Thông tin từ Hiệp hội Rau quả Việt Nam, quý I-2026, xuất khẩu rau quả sang EU đạt khoảng 121 triệu USD, tăng 33% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy EU tiếp tục là điểm đến tăng trưởng nhanh và ổn định.

Một dây chuyền sơ chế, chế biến chanh dây xuất khẩu tại tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: Trường Sa
Xét theo từng mặt hàng, chanh leo dẫn đầu với kim ngạch gần 30,5 triệu USD, tăng 73%, chiếm hơn 25% tổng giá trị xuất khẩu. Hạt dẻ cười đứng thứ hai với 26,5 triệu USD, tăng 137%, nâng tỷ trọng lên gần 22%.
Đáng chú ý, một số sản phẩm quy mô còn nhỏ nhưng tăng trưởng rất mạnh như: Dâu tây đạt 2,21 triệu USD, tăng tới 736 lần; mắc ca đạt 2,25 triệu USD, tăng hơn 7 lần. Đây được xem là những tín hiệu cho thấy dư địa mở rộng ở các phân khúc mới.
Trong khi đó, sầu riêng, mặt hàng chủ lực của ngành rau quả vẫn chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ tại EU, với kim ngạch 404.000 USD, dù tăng 50% so với cùng kỳ năm 2025 (chủ yếu phục vụ cộng đồng người châu Á).
Phân tích rõ về những con số trên, ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết, do khoảng cách địa lý xa, khoảng 2/3 lượng rau quả xuất sang thị trường EU là hàng chế biến; hàng tươi chủ yếu vận chuyển bằng đường hàng không nên chi phí cao.
Sở dĩ kim ngạch tăng trưởng nhanh là do doanh nghiệp nâng cao chất lượng, đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường EU về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tính bền vững. Cùng với đó, nhu cầu tiêu thụ trái cây nhiệt đới tại EU gia tăng trong bối cảnh người tiêu dùng ưu tiên sản phẩm có lợi cho sức khỏe đã góp phần thúc đẩy kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam.
Nhìn tổng thể, xuất khẩu rau quả sang EU không chỉ tăng về lượng mà còn chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa, giảm dần sự phụ thuộc vào một vài sản phẩm đơn lẻ. Đây là yếu tố quan trọng để duy trì tăng trưởng bền vững.
Chuyển dịch sang chế biến sâu
Bên cạnh tăng trưởng thị trường, cơ cấu xuất khẩu đang thay đổi rõ rệt theo hướng gia tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến. Hiện khoảng 2/3 lượng rau quả xuất sang EU và Nhật Bản là hàng đông lạnh, sấy khô, nước ép hoặc chế biến sâu.

Mục tiêu 10 tỷ USD trong 2026 là khả thi nếu xu hướng tăng trưởng tại EU và các thị trường cao cấp tiếp tục được duy trì. Ảnh: Trường Sa
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu rau quả chế biến đạt trên 2,06 tỷ USD, tăng 42,1%, chiếm 24% toàn ngành. Một số mặt hàng chế biến tăng mạnh như hạt dẻ cười đạt 446 triệu USD (tăng hơn 72%), hạnh nhân đạt 215 triệu USD (tăng trên 62%).
Xu hướng này phù hợp với thay đổi trong hành vi tiêu dùng tại EU, khi người dân ưu tiên sản phẩm tiện lợi, có thể mua sắm trực tuyến và sử dụng nhanh. So với hàng tươi, sản phẩm chế biến có lợi thế về bảo quản, chi phí logistics và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật.
Song song đó, năng lực tuân thủ các quy định về biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) cũng được cải thiện. Năm 2025, số cảnh báo của EU đối với nông sản, thực phẩm Việt Nam giảm từ 114 xuống còn 60, tương đương giảm 48%. Điều này cho thấy doanh nghiệp đã chuyển từ bị động xử lý sang chủ động tuân thủ ngay từ khâu sản xuất.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), thách thức vẫn gia tăng khi EU liên tục siết chặt tiêu chuẩn, đặc biệt với mức dư lượng tối đa (MRL). Dự thảo quy định mới của EU đang chuyển từ cách tiếp cận “đánh giá rủi ro” sang “đánh giá nguy hại”, đồng thời đề xuất áp dụng ngưỡng mặc định 0,01 mg/kg, gần như mức bằng 0 đối với nhiều hoạt chất.
Việc siết chặt này buộc doanh nghiệp phải kiểm soát chặt từ vùng nguyên liệu, nắm rõ quy trình sản xuất, thời gian cách ly và tiêu chuẩn riêng của từng thị trường. Mô hình “một quy chuẩn cho nhiều thị trường” ngày càng khó áp dụng.
Một chuyển động đáng chú ý là cơ cấu xuất khẩu đang nghiêng mạnh sang nhóm hàng chế biến sâu. Hiện nay, khoảng 2/3 lượng rau quả Việt Nam xuất sang EU và Nhật Bản là hàng đông lạnh, sấy khô, nước ép hoặc chế biến sâu thay vì chủ yếu là hàng tươi như trước đây. Hướng đi này giúp kéo dài thời gian bảo quản, giảm rủi ro trước các hàng rào kỹ thuật và tối ưu chi phí logistics.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt tại EU, nơi nhiều quốc gia xuất khẩu lớn như Thái Lan, Peru, Ecuador hay Philippines gia tăng sự hiện diện, ông Đặng Phúc Nguyên cho rằng, việc xây dựng thương hiệu, chuẩn hóa sản xuất và chủ động thích ứng tiêu chuẩn sẽ quyết định khả năng giữ thị trường, đây cũng là hướng đi tất yếu của ngành trong giai đoạn tới.
Để duy trì đà tăng trưởng, các chuyên gia cho rằng ngành rau quả cần tiếp tục tái tổ chức vùng nguyên liệu theo hướng bền vững, liên kết chuỗi chặt chẽ, thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu và xây dựng thương hiệu tại thị trường sở tại.
Năm 2025, ngành rau quả Việt đạt “kỷ lục kép” với kim ngạch 8,56 tỷ USD và lần đầu tiên xuất khẩu sản phẩm chế biến vượt mốc 2 tỉ USD. Mục tiêu 10 tỷ USD trong 2026 được đánh giá là khả thi nếu xu hướng tăng trưởng tại EU và các thị trường cao cấp tiếp tục được duy trì.
Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam











