Bảo đảm thành quả tăng trưởng cải thiện thiết thực cuộc sống người dân
Thảo luận tại Tổ 3 (gồm các Đoàn ĐBQH: TP. Hải Phòng, tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Hà Tĩnh) chiều 18/10 về phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước, ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (TP. Hải Phòng) đồng tình với định hướng lấy hiệu quả thực chất, năng suất và đời sống Nhân dân làm thước đo phát triển. Từ đó, đại biểu đề nghị quan tâm đến việc phát triển nguồn nhân lực gắn với cơ hội việc làm và bảo đảm thành quả tăng trưởng được chuyển thành cải thiện thiết thực cho cuộc sống của người dân.
Tăng cường đặt hàng đào tạo từ nhu cầu tuyển dụng đã được xác định
Theo đó, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị cần rà soát, có giải pháp cụ thể hơn kết nối người lao động, đặc biệt là thanh niên với cơ hội học tập, đào tạo và tìm việc làm. Mục tiêu tăng trưởng cao, phát triển công nghệ và năng suất đặt ra yêu cầu rất lớn về nguồn nhân lực. Dẫn số liệu của Tổng cục thống kê, quý II.2026, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15 đến 24 tuổi là 9,07%. Đáng chú ý, khoảng 1,6 triệu thanh niên trong độ tuổi này không có việc làm, không tham gia học tập đào tạo, chiếm 11,2% tổng số thanh niên cùng độ tuổi, đại biểu cho rằng đây là vấn đề cần được quan tâm đầy đủ trong đánh giá chất lượng nguồn nhân lực và trong kế hoạch phát triển của năm tiếp theo và những năm tới.

ĐBQH Nguyễn Thị Việt Nga (TP. Hải Phòng) phát luận thảo luận tại tổ chiều 18/10. Ảnh: Lâm Hiển
Theo đại biểu, một người trẻ ở ngoài cả môi trường học tập, đào tạo và việc làm trong một thời gian dài có thể mất dần kỹ năng, kinh nghiệm và sự tự tin. Việc hỗ trợ sớm sẽ giúp họ có thêm cơ hội phát triển, đồng thời bổ sung nguồn nhân lực cho nền kinh tế. Cũng cần nhìn nhận nhóm này đầy đủ, tránh quy nguyên nhân đơn giản thành tâm lý ngại học, ngại làm. Có người đã tìm việc nhưng chưa có cơ hội phù hợp, có người thiếu kỹ năng, có người phải chăm sóc con nhỏ hoặc người thân, có người gặp khó khăn về sức khỏe, điều kiện kinh tế, hoặc là họ cũng đã nản lòng trong nhiều lần tìm việc không thành. Mỗi hoàn cảnh đòi hỏi cách hỗ trợ khác nhau.
Các khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế cũng nhấn mạnh việc nhận diện chủ động tiếp cận và kết nối những người trẻ ở ngoài thị trường lao động trong một cách tiếp cận phối hợp. Đại biểu đề nghị Chính phủ quan tâm chỉ đạo bốn công việc cụ thể.
Một là, xác định rõ đầu mối tiếp cận và hỗ trợ thanh niên. Đề nghị Bội Nội vụ chủ trì phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các địa phương và tổ chức đoàn để xây dựng cơ chế nhận diện nhu cầu trên cơ sở khai thác dữ liệu hiện có, kết hợp tiếp cận tại cộng đồng, hạn chế phát sinh thêm chế độ báo cáo của cơ sở dữ liệu riêng lẻ.
Trung tâm dịch vụ việc làm cần có cơ chế phối hợp với cấp xã, trường học và tổ chức đoàn để chủ động tìm đến người cần hỗ trợ. Cần chú ý những thời điểm dễ gián đoạn như: sau khi rời trường, tốt nghiệp chưa tìm được việc hoặc là mất việc. Thông tin thu thập phải phục vụ hỗ trợ đúng nhu cầu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và tôn trọng quyền được tiếp cận.
Thứ hai, cần xây dựng lộ trình hỗ trợ phù hợp cho từng nhóm. Người thiếu kỹ năng cần được tư vấn học nghề theo nhu cầu tuyển dụng; người đã có chuyên môn nhưng chưa tìm được việc thì cần hỗ trợ hoàn thiện kỹ năng ứng tuyển, trải nghiệm nghề nghiệp và kết nối doanh nghiệp; người phải chăm sóc gia đình cần được tiếp cận lịch học linh hoạt, dịch vụ giữ trẻ hoặc việc làm phù hợp; người gặp khó khăn về tâm lý cần được tư vấn và đồng hành. Đại biểu đề nghị lựa chọn một số địa phương thí điểm cơ chế phối hợp này ngay trong năm 2027. Mỗi người tham gia cần được đánh giá nhu cầu, thống nhất nội dung và theo dõi quá trình hỗ trợ.
Ba là, đề nghị tăng cường đặt hàng đào tạo dựa trên nhu cầu tuyển dụng đã được xác định, khuyến khích doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, tổ chức thực hành và đánh giá kỹ năng. Có thể nghiên cứu hỗ trợ một phần chi phí đào tạo tại doanh nghiệp đối với thanh niên khó khăn, gắn với điều kiện rõ ràng về hướng dẫn nghề, an toàn, thời gian thực hành, thù lao phù hợp và kết quả tuyển dụng. Các hình thức hỗ trợ phải phù hợp với độ tuổi, tránh việc lợi dụng danh nghĩa thực tập để sử dụng lao động kéo dài mà không bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Với người có hoàn cảnh khó khăn, hỗ trợ học phí cần được xem xét cùng chi phí đi lại, ăn ở và các điều kiện tham gia khác. Người học phải có khả năng theo học đến cùng thì chính sách mới phát huy được hiệu quả.
Bốn là, cần đánh giá bằng kết quả sau hỗ trợ. Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị theo dõi tỷ lệ quay lại học tập, hoàn thành đào tạo, có việc làm và duy trì việc làm sau 6 tháng, sau 12 tháng, từ đó điều chỉnh chương trình và cách thức hỗ trợ kinh phí. Đồng thời, cần chuẩn bị đào tạo lại cho người đang làm việc trong những ngành có biến đổi nhanh do công nghệ. Khi doanh nghiệp xây dựng phương án chuyển đổi công nghệ, cũng cần tính đến phương án chuyển đổi kỹ năng cho người lao động.
Kết nối chặt các quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị với hạ tầng xã hội
Vấn đề thứ hai đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga quan tâm đề xuất là cần gắn chính sách việc làm với giảm bớt áp lực chi phí thiết yếu và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội. Đại biểu đánh giá rất cao những cố gắng của Chính phủ trong cải thiện thu nhập và bảo đảm an sinh. Để thành quả này được cảm nhận rõ hơn trong từng gia đình, cần quan tâm đầy đủ thu nhập thực tế, tính ổn định của việc làm và chi phí duy trì cuộc sống.
Với một lao động trẻ, quyết định nhận việc còn phụ thuộc vào khả năng thuê nhà, đi lại, nuôi con và khám chữa bệnh. Những điều kiện này có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì việc làm và gắn bó với doanh nghiệp. Vì vậy, đại biểu đề nghị trước hết cần kết nối chặt các quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị với hạ tầng xã hội. Tại các địa bàn tập trung đông lao động, việc chuẩn bị nhà ở cho thuê phù hợp khả năng chi trả, trường học, cơ sở giữ trẻ và y tế cần được triển khai đồng bộ với việc phát triển sản xuất.
Cùng với đó, khi đánh giá kết quả phát triển nhà ở, cũng cần quan tâm mức giá, điều kiện tiếp cận và khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế của người lao động. Dịch vụ giữ trẻ an toàn có thời gian hoạt động phù hợp là một giải pháp hỗ trợ việc làm hết sức thiết thực, đặc biệt là đối với phụ nữ có con nhỏ. Đây cũng là điều kiện giúp một bộ phận thanh niên đang ở nhà chăm sóc gia đình có thể trở lại học tập hoặc tham gia thị trường lao động.
Tiếp theo, cần hỗ trợ người lao động duy trì bảo vệ khi chuyển đổi việc làm và nơi trú ngụ. Đại biểu đề nghị tăng cường kết nối dữ liệu, đơn giản hóa thủ tục để việc thay đổi doanh nghiệp hoặc địa bàn làm việc không gây gián đoạn quyền lợi hợp pháp của người lao động. Đối với lao động phi chính thức, lao động trên nền tảng số, cần có cách tư vấn và hỗ trợ tham gia bảo hiểm phù hợp với đặc điểm thu nhập và khả năng đóng góp. Cùng với mở rộng bao phủ, cần tiếp tục xử lý trình tình trạng chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm, bảo đảm quyền lợi của người lao động khi mà thất nghiệp và khó khăn.
Một nội dung quan trọng nữa đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị là quan tâm hơn tới khả năng phòng ngừa tái nghèo. Một gia đình có thể gặp khó khăn kéo dài khi người tạo thu nhập chính mất việc, mắc bệnh hoặc phải ngừng việc để chăm sóc người thân. Vì vậy, hỗ trợ sinh kế cần gắn với học nghề, kết nối việc làm, y tế và dịch vụ chăm sóc phù hợp. Riêng người không còn khả năng lao động cần được bảo đảm trợ giúp xã hội đủ đối tượng.
Phát triển nguồn nhân lực và nâng cao đời sống Nhân dân có quan hệ trực tiếp với nhau. Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị trong kế hoạch năm 2027, cần cụ thể hóa hơn trách nhiệm phối hợp nguồn lực và kết quả cần đạt được đối với các nhiệm vụ này. Trong đó, quan tâm cơ chế hỗ trợ có trọng tâm cho thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập, đào tạo. Bởi, một người trẻ được kết nối trở lại với học tập và việc làm là thêm một cơ hội phát triển được mở ra. Nhiều cơ hội như vậy sẽ tạo dựng và duy trì vững chắc nền tảng tăng trưởng, củng cố niềm tin và nâng cao chất lượng sống của Nhân dân.



