Biến danh hiệu UNESCO thành nguồn lực quốc gia - Bài 2: Gỡ điểm nghẽn để di sản 'lên ngôi'
Xây dựng chiến lược khai thác, phát huy và quản lý di sản một cách tổng thể và bền vững hậu ghi danh chính là


Chiều tà trên Quần thể danh thắng Tràng An (tỉnh Ninh Bình), những chiếc thuyền nối nhau cập bến, tiếng mái chèo khua trên mặt nước thưa dần. Du khách rời đi, mang theo những bức ảnh, những đoạn video và câu chuyện về một vùng non nước kỳ thú. Một ngày của di sản khép lại. Nhưng câu chuyện về giá trị của di sản thì chưa bao giờ dừng lại…
Được UNESCO ghi danh Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới năm 2014, Tràng An cũng như hàng chục di sản, vừa là tài sản của dân tộc, vừa là những “đại sứ văn hóa”, góp phần kể câu chuyện về đất nước, con người Việt Nam với thế giới. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, văn hóa đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng của chiến lược đối ngoại, được thể hiện trong Nghị quyết số 59-NQ/TW, Nghị quyết số 80-NQ/TW và Luật Di sản văn hóa năm 2024…

Mặc dù Việt Nam đang sở hữu “mỏ vàng” di sản, nhưng chưa tận dụng được lợi thế đó để chuyển hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế, du lịch và gia tăng sức mạnh thương hiệu quốc gia. Trong đó, “điểm nghẽn” lớn nhất là chưa có chiến lược khai thác, phát huy và quản trị di sản một cách tổng thể và bền vững hậu ghi danh.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, sau khi di sản được UNESCO ghi danh, điều quan trọng nhất là nhanh chóng xây dựng một chiến lược quản trị tổng thể, dài hạn và có khả năng đo lường. Chiến lược phải xác định rõ giá trị cốt lõi cần bảo vệ, giới hạn khai thác, vai trò của cộng đồng, cơ chế phối hợp, nguồn lực đầu tư và những lợi ích mà người dân địa phương được thụ hưởng.
Trong đó, cộng đồng phải được đặt vào vị trí chủ thể của di sản. Không thể bảo tồn bền vững nếu người dân bị đẩy ra ngoài quá trình quản lý, hoặc chỉ nhận được phần lợi ích rất nhỏ từ các hoạt động du lịch. Người dân phải được tham gia xây dựng kế hoạch, cung cấp dịch vụ, phát triển sản phẩm và giám sát việc khai thác di sản.


Ông Sơn nhấn mạnh yêu cầu xây dựng cơ chế tài chính bền vững. Nguồn thu từ vé tham quan, dịch vụ du lịch và khai thác thương hiệu phải được tái đầu tư hợp lý cho công tác bảo tồn, môi trường, đào tạo nhân lực và hỗ trợ cộng đồng. Hợp tác công - tư, tài trợ xã hội, quỹ bảo tồn và sự tham gia của doanh nghiệp cần được khuyến khích, nhưng phải đi cùng những nguyên tắc rõ ràng để ngăn ngừa thương mại hóa quá mức. Đặc biệt, cần phát triển các chuỗi giá trị gắn với di sản. Không chỉ bán vé tham quan, địa phương có thể phát triển sản phẩm thủ công, thiết kế, thời trang, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, xuất bản, ẩm thực, trò chơi và nội dung số…
Ở góc độ quản lý nhà nước, Cục trưởng Cục Di sản Văn hoá (Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) Lê Thị Thu Hiền, nhấn mạnh, nhu cầu phát triển hạ tầng, mở rộng không gian đô thị, phát triển du lịch và dịch vụ ngày càng lớn đã tạo ra sức ép đáng kể đối với nhiều khu di sản. Nếu không có quy hoạch đồng bộ và cơ chế kiểm soát hiệu quả, rất dễ dẫn đến xung đột giữa mục tiêu bảo tồn và phát triển…
Áp lực này càng rõ nét khi lượng khách du lịch gia tăng nhanh. UNESCO luôn khuyến khích phát huy giá trị di sản văn hoá phục vụ phát triển, nhưng đồng thời cũng yêu cầu bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn và khả năng chống chịu của di sản. Bài toán đặt ra hiện nay không phải là làm thế nào để có nhiều khách hơn, mà là làm thế nào để quản lý sức chứa của di sản văn hoá, phân bổ dòng khách hợp lý, giảm áp lực lên các khu vực nhạy cảm và nâng cao chất lượng trải nghiệm. Đây là xu hướng mà nhiều quốc gia có di sản thế giới đang chuyển sang thực hiện.

Từ góc độ này, TS Trần Hoài, Trưởng Bộ môn Di sản học, Khoa Công nghiệp Văn hóa và Di sản, Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật cảnh báo xu hướng “du lịch hóa”, “sự kiện hóa”, tách rời “hệ sinh thái văn hoá”. Việc gia tăng lượng khách, mở rộng dịch vụ, tổ chức những lễ hội quy mô lớn… dễ bị xem như thước đo chủ yếu của việc phát huy giá trị di sản.
Cách tiếp cận này, nếu thiếu kiểm soát có thể đẩy di sản vào vòng xoáy khai thác quá mức, gây áp lực lên cảnh quan, hạ tầng và không gian sống. Những thực hành văn hóa gắn với tín ngưỡng, ký ức và đời sống cộng đồng cũng có nguy cơ bị “sân khấu hoá”, trở thành những tiết mục phục vụ thị trường. Khi đó, hình thức của di sản có thể vẫn được duy trì, nhưng hệ sinh thái văn hóa nuôi dưỡng di sản, “mạch sống” lại dần suy yếu. Di sản vẫn hiện diện trong các lễ hội, chương trình biểu diễn, hay sản phẩm du lịch, nhưng ngày càng xa rời cộng đồng thực hành.
Chẳng hạn, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (được UNESCO ghi danh Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại năm 2005) cho thấy rõ mối quan hệ giữa di sản và hệ sinh thái văn hóa. Cồng chiêng không tồn tại độc lập như một loại hình âm nhạc, mà nằm trong hệ sinh thái văn hóa rộng lớn, gắn với không gian “rừng thiêng”, bến nước, nhà rông, đời sống cộng đồng, các nghi lễ vòng đời cây trồng và quan niệm vạn vật hữu linh. Vì vậy, khi “rừng thiêng” bị thu hẹp và cấu trúc làng thay đổi, lễ hội truyền thống mất chỗ dựa, thì thực hành và đời sống của không gian văn hóa cồng chiêng với cộng đồng bị đe dọa nghiêm trọng…

Trong tiếng đàn tính ngân vang giữa núi rừng Tây Bắc, những làn điệu Then, những vòng Xòe nối dài không chỉ là ký ức văn hóa của cộng đồng các dân tộc Tày, Nùng, Thái, mà còn là những câu chuyện sống động về con người Việt Nam gửi tới thế giới. Là tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc của Tổ quốc, Lai Châu có vị trí địa chính trị đặc biệt quan trọng, nơi sinh sống của 20 dân tộc với kho tàng di sản văn hóa phong phú, đa dạng.
Đến nay, Lai Châu có 2 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, gồm: “Thực hành Then của các dân tộc Tày, Nùng, Thái” và “Nghệ thuật Xòe Thái”; cùng 11 di sản Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Những danh hiệu này vừa là niềm tự hào của cộng đồng, vừa mở ra cơ hội để địa phương phát triển du lịch văn hóa, quảng bá hình ảnh, tạo sinh kế và thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội.
Theo ông Trần Mạnh Hùng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lai Châu, địa phương xác định triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035 là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Từ thực tiễn triển khai cho thấy, hành trình biến di sản thành nguồn lực phát triển vẫn còn nhiều khó khăn, rào cản. Đặc thù địa hình đặt ra nhiều trở ngại đối với công tác bảo tồn và phát huy di sản. Lai Châu là địa phương có diện tích rộng, địa hình chia cắt, hạ tầng giao thông còn nhiều khó khăn. Số lượng di sản văn hóa không nhiều, nhưng phân bố ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; trong khi đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa ở cơ sở còn hạn chế, năng lực chuyên môn chưa đồng đều…

Tính đến nay, Việt Nam có 3 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO đưa vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, gồm: Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ (năm 2025), Nghệ thuật làm gốm của người Chăm (năm 2022) và Ca trù (năm 2009).
Tháng 12/2025, Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ của tỉnh Bắc Ninh được UNESCO ghi danh trong bối cảnh số nghệ nhân và gia đình còn duy trì nghề đã giảm mạnh. Hiện chỉ còn một số ít gia đình tiếp tục làm tranh, trong khi những người thực sự tâm huyết với nghề quá ít để duy trì việc truyền dạy và làm tranh. Các kỹ năng vẽ mẫu, khắc bản in lại đòi hỏi nhiều năm học nghề và tích lũy kinh nghiệm.
Thệ trẻ ít mặn mà, nghề khó bảo đảm sinh kế, trong khi nhu cầu sử dụng tranh Đông Hồ trong các dịp lễ truyền thống ngày càng thu hẹp… Những yếu tố này đang khiến việc trao truyền nghề đứng trước nguy cơ gián đoạn, đe dọa sự tồn tại và phát triển của một dòng tranh dân gian đặc sắc của Việt Nam.
Cục trưởng Cục Di sản Văn hoá Lê Thị Thu Hiền cho rằng, quá trình đô thị hóa, thay đổi lối sống và sự dịch chuyển của lực lượng lao động khiến không ít loại hình di sản đứng trước nguy cơ mai một không gian thực hành di sản, thực hành sai lệch di sản. Nhiều nghệ nhân nắm giữ di sản tuổi đã cao nhưng đội ngũ kế cận lại quá mỏng. Vì vậy, bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể trước hết là bảo tồn nghệ nhân, bảo tồn không gian thực hành văn hóa và tạo điều kiện để di sản tiếp tục được thực hành, phát huy giá trị trong đời sống đương đại.

Nhiều năm nghiên cứu di sản văn hoá, TS Trần Hoài cho biết, sự tham gia của cộng đồng tại một số nơi còn mang tính tham vấn, hoặc trình diễn, chưa đạt tới mô hình đồng quản trị. Cộng đồng có thể xuất hiện trong hồ sơ, lễ hội và hoạt động quảng bá, nhưng chưa có quyền tương xứng trong việc quyết định di sản được bảo vệ, sử dụng và chia sẻ lợi ích…
Đáng chú ý, tình trạng phân phối lợi ích từ di sản chưa thực sự công bằng. Cộng đồng chủ thể, những người tạo ra, gìn giữ và trao truyền di sản, thường đứng ở khâu tạo giá trị thấp nhất của chuỗi. Phần lớn doanh thu thường thuộc về các chủ thể kinh doanh ngoài địa phương. Đây không chỉ là vấn đề công bằng, mà còn là cơ chế bảo đảm cho sự bền vững của di sản, bởi nếu không được hưởng lợi, thì cộng đồng sẽ không có động lực để gìn giữ và tham gia chủ động vào các hoạt động di sản…
Chuyên gia phát triển thương hiệu Phan Minh Thu, giảng viên môn Xây dựng Thương hiệu Văn hóa (Trường Đại học Văn hoá Hà Nội) nhấn mạnh, những năm gần đây, công tác truyền thông di sản đã có nhiều chuyển biến tích cực, từ số hóa dữ liệu, hợp tác với Google Arts & Culture đến ứng dụng công nghệ thực tế tăng cường (AR) nhằm tái hiện không gian lịch sử tại một số điểm di sản. Tuy nhiên, để phát huy trọn vẹn lợi thế này, Việt Nam cần chuyển hóa các giá trị di sản thành những câu chuyện ngoại giao văn hóa có sức lan tỏa, chạm tới công chúng quốc tế.

Trong bối cảnh Việt Nam đang ưu tiên nguồn lực cho phát triển văn hóa, một thách thức đặt ra là vẫn thiếu một chiến lược nội dung thống nhất ở tầm quốc gia. Hiện nay, mỗi địa phương chủ yếu đang “tự kể” câu chuyện của mình, trong khi cách tiếp cận vẫn thiên về giới thiệu danh hiệu, cảnh quan và giá trị vật thể, hơn là làm nổi bật những câu chuyện về con người, cộng đồng và đời sống văn hóa đã tạo nên di sản.
“Thành công của một di sản sau ghi danh không phải là có thêm bao nhiêu lượt khách hay doanh thu, mà sau nhiều năm, di sản vẫn bảo tồn nguyên vẹn các giá trị cốt lõi, cộng đồng địa phương được hưởng lợi chính đáng, được ổn định cuộc sống và thế hệ trẻ tiếp tục tự hào, gìn giữ và lan tỏa những giá trị ấy. Đó mới là thước đo của sự phát triển bền vững”, bà Lê Thị Thu Hiền bộc bạch.
Tràng An khi màn đêm buông xuống, mặt nước phẳng lặng. Những con thuyền nằm im bên bến, không gian trở lại vẻ tĩnh mịch vốn có. Nhưng chỉ đến ngày mai, những mái chèo lại khua nước, những con thuyền lại nối nhau đưa du khách khám phá từng miền di sản...
Bài 3: Quản trị di sản hiện đại, lấy trải nghiệm làm trung tâm
Bài: Hồng Phượng
Ảnh: Báo Tin tức và Dân tộc, Di sản Tràng An, NVCC
Trình bày: Hồng Phượng
25/08/2026 06:00


