Biến tuân thủ pháp luật thành lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Hiện nay, rủi ro pháp lý đang xếp thứ 3 trong những nỗi lo lớn nhất của cộng đồng doanh nghiệp. Việc tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế và xác lập tư duy quản trị mới trong kỷ nguyên kinh tế xanh, kinh tế số là điều hết sức cần thiết.
Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Nghệ An đã có cuộc trao đổi với PGS. TS Phạm Thị Huyền Sang - Trưởng Khoa Luật Kinh tế, Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Vinh xung quanh vấn đề này.
P.V: Thưa PGS. TS. Phạm Thị Huyền Sang, dù hành lang pháp lý liên tục được hoàn thiện, nhưng rủi ro pháp lý vẫn là nỗi lo thường trực của doanh nghiệp. Theo PGS.TS đâu là những nút thắt khiến chính sách vẫn chưa thực sự chạm tới nhu cầu sát sườn của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa?
PGS. TS Phạm Thị Huyền Sang: Tôi cho rằng, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở sự thiếu hụt quy định, mà nằm ở khoảng cách giữa văn bản và thực thi. Có 3 rào cản chính đang là lực cản cho doanh nghiệp.

Mô hình kinh tế khởi nghiệp về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Ảnh tư liệu: Thanh Lê
Trước hết là việc giải thích pháp luật. Nhiều quy định vẫn mang tính định tính, thiếu các chỉ số định lượng cụ thể, khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng mơ hồ pháp lý. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu bộ phận pháp chế chuyên trách, nhân sự chủ yếu là kiêm nhiệm nên khi phát sinh tranh chấp thường rất lúng túng.
Bên cạnh đó là tính hệ thống chưa đồng bộ. Ví dụ: Một dự án đầu tư hiện chịu sự điều chỉnh của hàng loạt văn bản pháp luật từ đất đai, đầu tư, xây dựng đến môi trường... Sự chồng chéo này tạo ra một ma trận thủ tục, có thể gây lãng phí lớn về chi phí cơ hội.
Đáng lưu ý hơn cả là áp lực thực thi tại cơ sở. Tâm lý phòng vệ, sợ sai dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm tại một số bộ phận cán bộ khiến quy trình hành chính bị kéo dài.

PGS TS Phạm Thị Huyền Sang. Ảnh: Kim Hoa
Tinh thần Nghị quyết số 66/NQ-TW đã xác định rất rõ: Nhiệm vụ trọng tâm là rút ngắn khoảng cách giữa xây dựng và thực thi, đảm bảo pháp luật phải phản ánh đúng hơi thở của thực tiễn kinh doanh.
P.V: Theo PGS.TS! Trong bối cảnh mới với các tiêu chuẩn khắt khe như ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) hay CBAM (Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon), doanh nghiệp cần trang bị tư duy pháp lý thế nào để biến việc tuân thủ từ gánh nặng chi phí thành lợi thế cạnh tranh?
PGS. TS Phạm Thị Huyền Sang: Chúng ta đang bước vào kỷ nguyên mà tuân thủ pháp luật là một chiến lược sinh tồn, không còn là chuyện sai đâu sửa đấy. Để làm được điều này, doanh nghiệp cần xác lập hệ tư duy dựa trên 4 trụ cột cốt lõi. Thay vì đối phó, doanh nghiệp cần chủ động quản trị rủi ro ngay từ khâu thiết kế sản phẩm. Thiết lập hệ thống quản trị rủi ro ngay từ đầu sẽ rẻ hơn rất nhiều so với việc xử lý khủng hoảng về sau.

Kiểm tra sản phẩm tại các doanh nghiệp. Ảnh tư liệu: Châu Lan
Hãy coi pháp lý là giấy thông hành. Trong chuỗi cung ứng toàn cầu, các tập đoàn lớn không chỉ mua sản phẩm mà họ mua sự an toàn pháp lý của bạn. Việc chuẩn chỉnh giúp doanh nghiệp dễ dàng vượt qua các rào cản phi thuế quan và tiếp cận tín dụng xanh lãi suất.
Song song với đó, cần tích hợp văn hóa tuân thủ vào hệ giá trị của đơn vị. Tư duy pháp lý phải thấm nhuần từ lãnh đạo đến từng nhân viên. Và trụ cột thứ tư là số hóa công tác tuân thủ. Doanh nghiệp cần ứng dụng công nghệ (như AI, phần mềm quản trị) để tự động hóa việc cập nhật văn bản và kiểm soát phát thải.
Nên nhớ rằng, chi phí cho sự tuân thủ luôn thấp hơn rất nhiều so với chi phí của sự mất uy tín hay nguy cơ đình chỉ hoạt động.

PGS. TS Phạm Thị Huyền Sang trao đổi với phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Nghệ An.
P.V: Thưa PGS.TS, thực tế hỗ trợ pháp lý hiện nay vẫn bị cho là mang tính đồng phục, chưa có sự phân hóa. Để thực hiện tinh thần Nghị quyết số 66 và 68 của Bộ Chính trị, chúng ta cần có cơ chế phối hợp đột phá nào để hỗ trợ trúng và đúng từng loại hình doanh nghiệp, giúp họ yên tâm bứt phá?
PGS. TS Phạm Thị Huyền Sang: Về vấn đề này, tôi đề xuất 3 nhóm giải pháp mang tính xoay trục để công tác hỗ trợ pháp lý thực sự hiệu quả.
Đầu tiên là phân luồng hỗ trợ theo đặc thù chủ thể. Không thể hỗ trợ một tập đoàn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giống như một hộ kinh doanh. Chúng ta cần mở rộng diện hỗ trợ đến khu vực hộ kinh doanh, phân khúc chiếm số lượng lớn nhưng dễ bị tổn thương nhất. Với doanh nghiệp Startup ưu tiên hỗ trợ về sở hữu trí tuệ. Với các doanh nghiệp nhỏ và vừa đó là pháp luật về thuế, lao động. Còn với các tập đoàn là các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và giải quyết tranh chấp quốc tế.

Xuất khẩu sản phẩm viên nén gỗ ở Cảng Cửa Lò. Ảnh tư liệu: Nguyễn Sang
Thứ hai, phải xây dựng được hệ sinh thái pháp lý số. Mỗi doanh nghiệp nên có một ID pháp lý trên hệ thống quốc gia. Đồng thời, cần phát triển các trợ lý ảo AI được huấn luyện từ dữ liệu án lệ để giải đáp vướng mắc 24/7.
Cuối cùng là xã hội hóa và phối hợp liên ngành. Hình thành mạng lưới phối hợp chặt chẽ giữa ngành Tư pháp, các tổ chức hành nghề Luật, Hiệp hội Doanh nghiệp. Sự cộng hưởng nguồn lực này sẽ giúp giải quyết các vấn đề pháp lý phức tạp, mang tính liên ngành mà một cơ quan đơn lẻ khó lòng đáp ứng, giúp doanh nghiệp yên tâm bứt phá.
P.V: Xin cảm ơn PGS. TS Phạm Thị Huyền Sang về cuộc trao đổi này!
Điểm nhấn từ Nghị quyết số 66 và Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị:
* Nghị quyết số 66-NQ/TW: Tập trung vào xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, nhấn mạnh việc rút ngắn khoảng cách giữa xây dựng và thực thi pháp luật, tạo môi trường kinh doanh minh bạch.
*Nghị quyết số 68-NQ/TW: Khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, yêu cầu nâng cao hiệu quả hỗ trợ pháp lý để doanh nghiệp tự tin hội nhập quốc tế.












