CEF III 2026: Khơi 'đất dụng võ' để người tài tạo giá trị cho Hà Nội

Hà Nội đang đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa vào mở rộng nguồn lực sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng. Trong chuyển dịch đó, nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là yếu tố đầu vào của nền kinh tế, mà phải trở thành động lực trực tiếp tạo ra năng suất, đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh.

Biến lợi thế về nguồn nhân lực thành động lực tăng trưởng kinh tế bền vững là vấn đề trọng tâm được đặt ra tại Diễn đàn Kinh tế Thủ đô lần thứ III (CEF III), diễn ra chiều 8-10, với chủ đề “Động lực tăng trưởng từ nguồn nhân lực chất lượng cao”. Diễn đàn do UBND thành phố Hà Nội và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chỉ đạo; Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội (HANOISME) làm đầu mối tổ chức, điều phối, với sự tham gia đồng chủ trì của 18 đơn vị.

Diễn đàn Kinh tế Thủ đô lần thứ III (CEF III). Ảnh: Duy Khánh

Diễn đàn Kinh tế Thủ đô lần thứ III (CEF III). Ảnh: Duy Khánh

Từ lợi thế nguồn nhân lực đến năng suất và giá trị gia tăng

Phát biểu khai mạc diễn đàn, TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HANOISME nhấn mạnh: Nhân lực không chỉ là một yếu tố đầu vào mà đang trở thành yếu tố trực tiếp quyết định năng suất, đổi mới sáng tạo, sức cạnh tranh và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Vì vậy, bài toán nhân lực cần được đặt trong tổng thể các nguồn lực của nền kinh tế, gắn với công nghệ, vốn, dữ liệu, thị trường và khả năng tham gia chuỗi giá trị.

Chia sẻ quan điểm về vấn đề này, PGS.TS Trần Đình Thiên chỉ ra: Hà Nội có lợi thế đặc biệt khi hội tụ hệ thống trường đại học, viện nghiên cứu, chuyên gia, nguồn nhân lực chất lượng cao cùng các điều kiện về khoa học, giáo dục, văn hóa và kết nối quốc tế. Đây là những nguồn lực mà không phải địa phương nào cũng có được.

Tuy nhiên, lợi thế về nguồn nhân lực không tự động chuyển hóa thành tăng trưởng. Điều quan trọng là phải biến nguồn lực con người thành năng lực thực tế của doanh nghiệp và nền kinh tế. Chất lượng nhân lực vì thế không nên chỉ được nhìn qua bằng cấp, mà phải được đánh giá bằng những gì người lao động, chuyên gia và nhà quản trị tạo ra: năng suất, sản phẩm, giá trị gia tăng, công nghệ và sức cạnh tranh.

Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, Hà Nội cần tạo ra những nhiệm vụ đủ lớn để người có năng lực phát huy, đồng thời gắn quyền hạn với năng lực và trách nhiệm với sản phẩm, giá trị tạo ra. Khi người giỏi được trao đúng việc, đúng không gian và được đánh giá bằng kết quả, nguồn nhân lực mới thực sự trở thành nguồn lực phát triển.

Đây cũng là điểm cốt lõi của chủ đề CEF III: Nguồn nhân lực chất lượng cao chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi được đặt vào những nhiệm vụ thực tế, được trao cơ hội phát huy năng lực và tạo ra những kết quả có thể đo đếm.

Quang cảnh diễn đàn. Ảnh: Duy Khánh

Quang cảnh diễn đàn. Ảnh: Duy Khánh

Hòa Lạc được gợi mở như một không gian có thể kết nối trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, thiết bị dùng chung với các nhiệm vụ nghiên cứu - sản xuất cụ thể. Khi các chủ thể này không hoạt động tách rời mà cùng giải quyết những bài toán của nền kinh tế, tri thức mới có cơ hội chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm và giá trị.

Yêu cầu này càng trở nên rõ nét khi mô hình tăng trưởng đang thay đổi nhanh dưới tác động của công nghệ, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, dữ liệu và thương mại điện tử. Theo ThS Trần Thị Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam, riêng tháng 8-2026, doanh nghiệp Hà Nội có nhu cầu tuyển dụng khoảng 38.000 vị trí việc làm. Nhưng vấn đề không đơn thuần là thiếu lao động, mà là “thiếu đúng người, đúng kỹ năng và đúng thời điểm”.

Trong sản xuất, nhu cầu nhân lực đã chuyển sang những kỹ năng như tự động hóa, phân tích dữ liệu, kiểm soát chất lượng, bảo trì thiết bị thông minh, quản lý năng lượng và đáp ứng tiêu chuẩn xanh. Trong bán lẻ, người lao động cần đồng thời có kỹ năng bán hàng đa kênh, thương mại điện tử, thanh toán số, quản trị dữ liệu khách hàng và ứng dụng AI.

Như vậy, khoảng cách cần giải quyết không chỉ là khoảng cách về số lượng lao động, mà là khoảng cách giữa năng lực được đào tạo và năng lực nền kinh tế đang cần.

Nguồn nhân lực vì thế phải được đặt trong toàn bộ chuỗi giá trị, từ nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến logistics, phân phối, bán lẻ, thương mại điện tử và người tiêu dùng. Một mắt xích yếu về nhân lực có thể làm giảm hiệu quả của cả chuỗi, thậm chí hạn chế khả năng doanh nghiệp nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị.

Ra mắt Hội đồng Chuyên gia cấp cao CEF. Ảnh: Duy Khánh

Ra mắt Hội đồng Chuyên gia cấp cao CEF. Ảnh: Duy Khánh

Đào tạo theo nhu cầu nền kinh tế, doanh nghiệp cùng tham gia

Từ thực tiễn đó, CEF III đặt ra yêu cầu chuyển đổi cách tiếp cận về đào tạo và sử dụng nhân lực. Thay vì đào tạo những gì cơ sở đào tạo đang có, cần hướng tới đào tạo những gì nền kinh tế và doanh nghiệp cần; thay vì đào tạo để có bằng cấp, phải đào tạo để có năng lực và tạo ra năng suất. Quan trọng hơn, cần chuyển từ mô hình nhà trường đào tạo rồi doanh nghiệp tuyển dụng sang mô hình Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp cùng tham gia và cùng chịu trách nhiệm về chất lượng nhân lực.

TS Mạc Quốc Anh cho rằng, để tạo ra nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu tăng trưởng mới, doanh nghiệp cần được đặt ở vị trí chủ động hơn trong quá trình đào tạo. Doanh nghiệp không chỉ là nơi tiếp nhận lao động sau khi tốt nghiệp, mà cần tham gia xác định nhu cầu, đặt hàng kỹ năng, phối hợp xây dựng chương trình, tổ chức thực hành và đánh giá năng lực.

Một trong những đề xuất đáng chú ý là mô hình “doanh nghiệp đặt hàng - nhà trường đào tạo”. Doanh nghiệp tham gia từ khâu xác định nhu cầu, xây dựng chương trình, tổ chức thực hành đến đánh giá và tuyển dụng. Cách làm này giúp rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và việc làm, đồng thời để chương trình đào tạo phản ánh sát hơn sự thay đổi của công nghệ và thị trường.

Các đại biểu tham dự diễn đàn. Ảnh: Duy Khánh

Các đại biểu tham dự diễn đàn. Ảnh: Duy Khánh

Cùng với đó là xây dựng “Bản đồ nhân lực Hà Nội”, kết nối người lao động, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp với vị trí việc làm, kỹ năng, tiền lương và nhu cầu tuyển dụng. Nếu được tổ chức hiệu quả, đây không chỉ là công cụ hỗ trợ tìm việc mà còn giúp thành phố nhận diện những ngành, lĩnh vực thiếu nhân lực, dự báo nhu cầu và điều chỉnh hoạt động đào tạo phù hợp với chuyển dịch của nền kinh tế.

Một yêu cầu khác được nhấn mạnh là đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động đang làm việc. Khi công nghệ thay đổi nhanh, người lao động không thể chỉ dựa vào kiến thức được trang bị ban đầu. Học tập, cập nhật kỹ năng phải trở thành quá trình thường xuyên, linh hoạt và gắn với chính công việc đang thực hiện.

Ở đây, doanh nghiệp cần được nhìn nhận như một “trường học thứ hai”, trực tiếp tham gia đào tạo kỹ năng thực hành và cập nhật công nghệ. Các trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và viện nghiên cứu cũng cần tăng cường kết nối với doanh nghiệp để nghiên cứu và đào tạo sát hơn với nhu cầu thực tế.

Theo các đề xuất tại diễn đàn, Hà Nội cần ưu tiên phát triển 5 nhóm nhân lực gồm: Nhân lực kỹ thuật cho sản xuất hiện đại; nhân lực công nghệ và dữ liệu; nhân lực quản trị chuỗi cung ứng; nhân lực bán lẻ hiện đại; đội ngũ quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp. Trong đó, nhân lực công nghệ cần được phát triển gắn với từng lĩnh vực ứng dụng cụ thể như AI cho sản xuất, logistics, bán lẻ, marketing và quản trị chuỗi cung ứng.

Chuyên gia chia sẻ tại diễn đàn. Ảnh: Duy Khánh

Chuyên gia chia sẻ tại diễn đàn. Ảnh: Duy Khánh

Từ góc nhìn quốc tế, Đại sứ Kazakhstan tại Việt Nam Kanat Tumysh nhấn mạnh vai trò quyết định của con người trong phát triển. Công nghệ có thể tạo ra công cụ mới, nhưng tri thức, khả năng phán đoán, sáng tạo và quyết tâm của con người mới quyết định công nghệ được biến thành giá trị như thế nào.

Thông điệp này có ý nghĩa đối với Hà Nội trong quá trình thúc đẩy các lĩnh vực công nghệ cao, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Không thể có nền kinh tế công nghệ cao nếu thiếu nguồn nhân lực đủ khả năng làm chủ công nghệ; cũng không thể nâng năng suất nếu tri thức không được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, kinh doanh.

Từ góc nhìn của cộng đồng doanh nghiệp, TS Mạc Quốc Anh đề xuất tập trung vào những vấn đề có khả năng tạo tác động trực tiếp tới năng suất và năng lực cạnh tranh; đồng thời chuyển các khuyến nghị của diễn đàn thành những chương trình, nhiệm vụ hoặc đơn đặt hàng cụ thể, thay vì dừng ở việc trao đổi, thảo luận.

TS Mạc Quốc Anh nhấn mạnh, thành công của diễn đàn không nên được đo bằng số lượng bài phát biểu hay tham luận, mà phải được đánh giá bằng những việc được triển khai sau diễn đàn. Theo đó, cần lựa chọn một số vấn đề ưu tiên, chuyển hóa thành chương trình thí điểm hoặc đơn đặt hàng; xác định rõ vai trò của Nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, đồng thời theo dõi tiến độ thực hiện theo các mốc 7, 30, 60 và 100 ngày.

Phương Nga

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/cef-iii-2026-khoi-dat-dung-vo-de-nguoi-tai-tao-gia-tri-cho-ha-noi-1760095.html