Chuyện học xưa & nay: Cha đỗ Cử nhân, con đậu Hoàng giáp

Giữa những biến động lịch sử nửa sau thế kỷ 19, khi triều Nguyễn suy yếu và các phong trào yêu nước bị đàn áp, cha con nhà khoa bảng Hoàng Hữu Xứng - Hoàng Hữu Bính vẫn giữ vững tinh thần học vấn và khí tiết sĩ phu.

Nhà thờ họ Hoàng làng Bích Khê. Ảnh: ITN.

Nhà thờ họ Hoàng làng Bích Khê. Ảnh: ITN.

Trong lịch sử khoa bảng Việt Nam, không hiếm những gia đình nhiều đời đỗ đạt. Nhưng ở nửa sau thế kỷ 19 - giai đoạn triều Nguyễn bước vào thời kỳ suy thoái và đất nước dần rơi vào tay thực dân Pháp, việc duy trì được truyền thống học vấn và khí tiết sĩ phu là điều không dễ dàng.

Trong hoàn cảnh ấy, câu chuyện về cha con nhà khoa bảng Hoàng Hữu Xứng - Hoàng Hữu Bính không chỉ phản ánh truyền thống hiếu học của một dòng họ, mà còn cho thấy cách hai thế hệ nhà Nho ứng xử trước những biến động thời cuộc.

Con tuấn mã trong hàng Cử nhân

Hoàng Hữu Xứng (1831 - 1905), tự Bình Như, hiệu Song Bích, quê làng Bích Khê, huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong (nay là xã Ái Tử, Quảng Trị). Ông sinh trưởng trong một gia đình có nền nếp học vấn sâu rộng. Cha ông là Hoàng Hữu Lợi thông thạo Nho học nhưng vì phạm trường quy nên không đỗ đạt; sau từ quan, sống đời thanh đạm, giỏi ngâm vịnh quốc âm. Mẹ ông là Lê Thị Hơn, người phụ nữ có học, đảm đang, hết lòng chăm lo gia đình và việc giáo dưỡng con cái.

Môi trường gia giáo thi thư ấy tạo nên nền tảng học vấn vững chắc cho Hoàng Hữu Xứng từ thuở thiếu thời. Năm Nhâm Tý (1852), ông đỗ Cử nhân khoa thi Hương dưới triều vua Tự Đức. Tuy chỉ xếp thứ chín, nhưng ông vẫn được vua Tự Đức đặc biệt khen ngợi là “con tuấn mã trong hàng Cử nhân”. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, ông không thể tiếp tục dự thi Hội, song sớm bước vào con đường quan lộ bằng thực tài và sự cần mẫn.

Khoảng năm 1860, khi vừa đầy 30 tuổi, Hoàng Hữu Xứng được bổ làm Huấn đạo huyện Tuy Viễn (Bình Định), rồi chỉ sau ít tháng được thăng Quyền Tri huyện Tuy Viễn. Nhờ điều tra, phá nhiều vụ án cướp bóc, giết người, bắt giữ được nhiều can phạm, năm 1862 ông được cất nhắc làm Tri huyện Hà Đông (Quảng Nam). Đến 1869, ông được triệu về kinh giữ chức Biện lý Bộ Binh, cùng đồng liêu làm việc hiệu quả, được vua Tự Đức khen thưởng.

Năm 1873, Hoàng Hữu Xứng được bổ làm Bố chính Thanh Hóa. Trong thời gian này, do không dẹp yên được một vụ giặc cướp nên ông bị giáng hai cấp nhưng vẫn được lưu chức tại chỗ. Dẫu vậy, suốt hơn 10 năm giữ chức Bố chính, ông nổi tiếng thanh liêm, liêm chính. Sách “Đại Nam thực lục” ghi lại lời truyền tụng của dân gian rằng, tài sản tích lũy của ông trong 10 năm làm Bố chính còn ít hơn của một viên quan khác chỉ sau một năm nhậm chức.

Chính đức tính ấy khiến năm 1877 ông được triệu về kinh đô Huế giữ chức Tả Thị lang Bộ Lại, kiêm coi Viện Đô Sát. Năm 1879, khi xảy ra vụ tham nhũng lớn tại Bình Thuận liên quan đến Nguyễn Chí Tâm và Khoa đạo Tạ Ngọc Đường, Hoàng Hữu Xứng được triều đình giao nhiệm vụ điều tra. Ông làm rõ sự thật, xử lý nghiêm minh cả người phạm tội lẫn kẻ bao che, được triều đình thưởng thêm một cấp và ghi công.

Năm 1880, ông được thăng làm Thự Tuần phủ Hà Nội. Trước nguy cơ Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, đầu năm 1882, ông cùng một số quan lại Bắc Kỳ dâng kế sách phòng thủ lên vua Tự Đức và được chấp thuận. Tuy nhiên, trước tương quan lực lượng chênh lệch, thành Hà Nội vẫn thất thủ. Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết, nhiều quan binh bỏ chạy. Riêng Hoàng Hữu Xứng bị Pháp bắt, có thái độ cứng cỏi, tuyệt thực nhiều ngày, sau mới hồi phục.

Sau sự kiện này, triều đình cách chức các quan tỉnh Hà Nội, trong đó có Hoàng Hữu Xứng, nhưng cho ông đi hiệu lực để chuộc tội, bổ làm Chánh sơn phòng Cam Lộ (Quảng Trị). Đến các năm 1884 - 1885, ông lần lượt được khai phục phẩm hàm, giữ các chức Hàn lâm viện Tu soạn, Quang lộc Tự khanh, và được sung làm Nhật giảng quan dưới triều vua Đồng Khánh.

Chân dung Cử nhân - quan đại thần Hoàng Hữu Xứng. Ảnh: ITN.

Chân dung Cử nhân - quan đại thần Hoàng Hữu Xứng. Ảnh: ITN.

Cha tài sinh con giỏi

Con trai ông là Hoàng Hữu Bính (Hoàng Hữu Tiếp) sinh năm 1857, trực tiếp chứng kiến sự thăng trầm quan lộ của cha, nên sớm hình thành ý thức học tập nghiêm cẩn và tinh thần trách nhiệm với thời cuộc. Nhờ sự giáo dưỡng của thân phụ, Hoàng Hữu Bính sớm tiếp thu nền học vấn Nho giáo, nổi tiếng trong vùng bởi tài học uyên thâm và bút lực sắc sảo, chữ viết được đương thời khen là sinh động, phóng khoáng như “rồng bay phượng múa”.

Năm Kỷ Mão (1879), dưới triều vua Tự Đức, ông đỗ Cử nhân khoa thi Hương. Do thuộc diện Ấm sinh, sau khi đỗ đạt, ông được bổ làm Giáo thụ, lĩnh chức Huấn đạo phủ Triệu Phong, tham gia việc đào tạo và giáo dục sĩ tử địa phương.

Khi phong trào Cần Vương bùng nổ, Hoàng Hữu Bính nhanh chóng dấn thân vào phong trào yêu nước. Ông cùng thông gia là Cử nhân Lê Thế Vỹ, người làng Tường Vân (phủ Triệu Phong), soạn thảo hịch văn kêu gọi sĩ phu và nhân dân hưởng ứng, đồng thời trực tiếp lãnh đạo các nhân sĩ trong vùng tham gia kháng Pháp.

Tại quê nhà Bích Khê, ông trở thành thủ lĩnh “Vườn đào tụ nghĩa”, một trung tâm quy tụ các danh sĩ và văn thân ủng hộ phong trào Cần Vương; đồng thời là một trong sáu “Vườn đào tụ nghĩa” lớn của tỉnh Quảng Trị. Thủ lĩnh “Vườn đào Mai Xá” là Tú tài Trương Quang Cung cũng là thông gia của ông, cho thấy mối liên kết chặt chẽ giữa các gia đình sĩ phu trong phong trào yêu nước thời bấy giờ.

Tuy nhiên, trước sự đàn áp ngày càng khốc liệt của thực dân Pháp, các phong trào Cần Vương và Văn thân lần lượt tan rã. Trong bối cảnh thời cuộc đảo lộn, Hoàng Hữu Bính lui về với con đường đèn sách, tiếp tục theo đuổi lý tưởng khoa bảng. Năm Kỷ Sửu (1889), ông dự khoa thi Hội và đỗ Tiến sĩ. Do khoa thi Ất Dậu trước đó bị gián đoạn bởi biến cố Kinh thành Huế, triều đình cho đặc cách để 14 Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu cùng 8 Tiến sĩ khoa Ất Dậu vào dự Đình thí, tổng cộng 23 người.

Khi truyền lô phân hạng, Hoàng Hữu Bính được xếp đầu Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, tức Đình nguyên Hoàng giáp. Thời điểm ấy, ông mới 33 tuổi, là một trong năm Tiến sĩ trẻ nhất của khoa thi. Đây cũng là khoa thi đầu tiên dưới triều vua Thành Thái, diễn ra ngay trong năm đầu nhà vua lên ngôi, mang ý nghĩa mở đầu cho một giai đoạn khoa cử mới của triều Nguyễn.

Hay tin Hoàng Hữu Bính đỗ Đình nguyên Hoàng giáp, Hội nguyên Nguyễn Thượng Hiền đã gửi tặng ông đôi câu đối: “Hỷ văn cựu vũ phùng xuân tảo/ Thùy hướng thanh sơn đắc nguyệt đa” (Mừng nghe mưa cũ gặp xuân sớm/ Ai dõi non xanh ánh nguyệt tràn).

Bài Tựa sách “Đại Nam quốc cương giới vựng biên” do cụ Hoàng Hữu Xứng viết. Ảnh: ITN.

Bài Tựa sách “Đại Nam quốc cương giới vựng biên” do cụ Hoàng Hữu Xứng viết. Ảnh: ITN.

Hai thế hệ, một tinh thần

Điểm nổi bật nhất trong sự nghiệp của người cha - Cử nhân Hoàng Hữu Xứng không nằm ở quan lộ, mà ở đóng góp học thuật. Dưới triều vua Đồng Khánh, ông được giao trọng trách đứng đầu việc biên soạn bộ “Đại Nam quốc cương giới vựng biên”, là một công trình lớn về địa lý và cương giới lãnh thổ.

Bộ sách gồm 7 quyển, khảo cứu toàn diện lãnh thổ Đại Nam từ kinh đô Huế đến các tỉnh Bắc - Trung - Nam, đồng thời bàn sâu về biên giới với Trung Quốc, Xiêm La, Miến Điện và khu vực sông Cửu Long. Đây được xem là công trình chuyên khảo hiếm hoi và có hệ thống nhất về biên giới quốc gia Việt Nam trong thế kỷ 19.

Trong bối cảnh đất nước mất dần chủ quyền vào tay thực dân Pháp, việc biên soạn một bộ sách khẳng định rành mạch lãnh thổ quốc gia mang ý nghĩa chính trị - lịch sử đặc biệt sâu sắc. Đó không chỉ là học thuật, mà còn là một cách gìn giữ chủ quyền của dân tộc.

Sau đó, với cương vị Hiệp biện Đại học sĩ, Phó Tổng tài Quốc sử quán, Hoàng Hữu Xứng còn trực tiếp phụ trách biên soạn “Đại Nam thực lục chính biên - Đệ ngũ kỷ”, ghi chép giai đoạn lịch sử cực kỳ phức tạp từ 1883 đến 1885. Năm 1900, ở tuổi ngoài bảy mươi, ông dâng sớ xin nghỉ hưu và được vua chấp thuận với lời phê trân trọng. Hoàng Hữu Xứng trở về quê nhà sống đời nhàn tản cho đến khi qua đời năm 1905.

Cổng làng Bích Khê. Ảnh: ITN.

Cổng làng Bích Khê. Ảnh: ITN.

Về Đình nguyên Hoàng giáp Hoàng Hữu Bính, sau khi đỗ đạt được bổ làm Tri phủ Tuy An (Bình Định). Tuy nhiên khác với người cha, ông làm quan trong bối cảnh triều đình đã bị Pháp khống chế sâu sắc, quyền lực thực tế của quan lại ngày càng bị thu hẹp.

Theo nhiều tư liệu lịch sử, Hoàng Hữu Bính tỏ ra khó hòa nhập với môi trường quan trường lệ thuộc, thường xuyên bày tỏ thái độ bất bình trước sự lộng quyền của viên chức Pháp. Có giai thoại cho rằng ông từng thẳng thừng phản ứng với một viên quan Pháp ngay tại công đường, sau đó xin từ quan.

Hành động ấy cho thấy tâm thế chung của một bộ phận sĩ phu cuối thế kỷ 19, dù đỗ đạt cao nhưng không tìm được con đường hành xử phù hợp trong một trật tự chính trị đã bị ngoại bang chi phối. Rời quan trường, Hoàng Hữu Bính trở về quê nhà Quảng Trị. Tại đây, ông tham gia và cổ vũ các hoạt động kết nối sĩ phu yêu nước.

Ông mất năm 1900, khi mới hơn 40 tuổi. Cuộc đời ngắn ngủi ấy khép lại hình ảnh một vị Đình nguyên Hoàng giáp không chọn con đường an phận, mà luôn trăn trở trước vận mệnh đất nước. Một số tư liệu cho biết, khi còn sống, Hoàng Hữu Bính là người nặng tinh thần thủ cựu, kiên quyết giữ lối sống và tư tưởng Nho giáo truyền thống. Ông dè dặt và thậm chí bài xích những yếu tố văn minh phương Tây, đến mức từ chối việc tiêm thuốc khi đau ốm hay chụp ảnh chân dung.

Sau khi qua đời, ông được triều đình truy tặng hàm Quang lộc Tự khanh. Tang lễ của ông được tổ chức trọng thể tại quê nhà làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, với sự hiện diện của đông đảo học trò cũ, nhiều người trong số đó đang giữ chức vụ trong triều đình.

Đặc biệt, có những môn sinh trực tiếp khiêng linh cữu thầy từ nhà ra đến nơi an táng, thể hiện sự kính trọng sâu sắc của giới sĩ phu đương thời đối với một bậc thầy về học vấn và đạo hạnh. Hiện nay, lăng mộ Hoàng Hữu Bính vẫn được gìn giữ tại làng Bích Khê, trở thành một dấu tích lịch sử gắn với truyền thống khoa bảng của vùng đất này.

Câu chuyện cha đỗ Cử nhân, con đậu Hoàng giáp của họ Hoàng ở Bích Khê không chỉ là niềm tự hào của một gia đình khoa bảng, mà còn là lát cắt sinh động của lịch sử Nho học Việt Nam cuối thế kỷ 19. Nếu Hoàng Hữu Xứng đại diện cho lớp danh thần - học giả cố gắng giữ gìn trật tự quốc gia trong hoàn cảnh suy vi, thì Hoàng Hữu Bính là hình ảnh day dứt và phản kháng trước thực tại mất nước. Dù là hai thế hệ khác nhau, cách ứng xử với thời cuộc cũng khác nhau nhưng lại tựu chung ở một tinh thần dân tộc - yêu nước.

Tháng 10/1886, triều Nguyễn giao Hoàng Hữu Xứng phụ trách biên soạn bộ “Đại Nam quốc cương giới vựng biên”. Viện Cơ Mật khi ấy nhận định cương giới quốc gia là vấn đề hệ trọng nhưng ít được khảo cứu, trong khi lãnh thổ Đại Nam tiếp giáp với nhà Thanh, Xiêm La, Miến Điện và vùng sông Cửu Long, cần có một công trình rành mạch, kèm đồ bản làm căn cứ lâu dài. Hoàng Hữu Xứng được sung chức đồng lý, cấp ấn khâm phái để chuyên tâm khảo xét, biên chép thành sách. Đây được xem là chuyên khảo có hệ thống hiếm hoi về cương giới và lãnh thổ thế kỷ 19. Sau này, nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp xếp ông vào danh sách các tác gia Việt Nam, ghi nhận ông như một nhà trứ thuật tiêu biểu của sử địa học cuối thời Nguyễn.

Trần Siêu

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/chuyen-hoc-xua-nay-cha-do-cu-nhan-con-dau-hoang-giap-post770450.html