Chuyện ít biết về vị Tiến sĩ xuất thân dòng dõi vua Trần
Từ dòng dõi hoàng tộc sa sút trong cơn biến động, lớn lên giữa nghèo khó, Trần Văn Huy đã lựa chọn con đường khoa bảng để khẳng định tài năng và nhân cách, trở thành vị Tiến sĩ, được dân gian tôn xưng là Quan Thượng Bợ.

Đền thờ Tiến sĩ Trần Văn Huy. Ảnh: Họ Đặng gốc Trần.
Khi đất nước vừa thoát khỏi ách đô hộ của nhà Minh, triều đại Lê sơ hình thành và sử dụng tầng lớp trí thức nho học trong việc xây dựng lại thể chế quốc gia, củng cố pháp luật, chấn hưng giáo dục và xác lập vị thế Đại Việt. Trong bối cảnh ấy, Quan Thượng Bợ Trần Văn Huy được biết đến không chỉ bởi con đường khoa cử và sự nghiệp quan trường, mà còn bởi ảnh hưởng lâu dài của ông đối với đời sống văn hóa.
Xuất thân hoàng tộc, vượt khó lập thân
Trần Văn Huy sinh năm 1410 tại làng Bợ, xã Quảng Bị, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc xã Đào Xá, Phú Thọ). Trần Văn Huy tên thật là Trần Nguyên Trừng (Trần Trừng), xuất thân từ một chi họ trong hoàng tộc nhà Trần, thuộc dòng dõi các vua Trần. Có thuyết cho rằng, cha ông là Trần Quốc Kiệt và mẹ là Trần Thị Hướng. Trần Quốc Kiệt là hậu duệ 4 đời của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.
Trần Quốc Kiệt vì dính dáng đến vụ Hồ Quý Ly truy sát một số tôn thất nhà Trần năm 1399 nên mới lánh đến xã Cổ Nông, châu Đà Giang, phủ Tam Giang. Sau này, để tránh liên lụy do gia đình có mối quan hệ với Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn nên sau khi Tả tướng quốc bị hại năm 1429, mới đổi tên từ Trần Nguyên Trừng thành Trần Văn Huy và dời đến định cư ở huyện Bất Bạt.
Trần Văn Huy sinh ra trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử khi Đại Việt rơi vào ách thống trị của nhà Minh. Các giai thoại huyền tích và “Đặng gia phả hệ toàn chỉnh thực lục” kể rằng, nhà nghèo thân mẫu thường phải đi bán nước chè ở các xã quanh vùng trong các lễ hội của dân làng. Xã Thượng Nông khi ấy có tên gọi là làng Nung, có đầm nước rộng, hàng năm cứ đến ngày 24 tháng Chạp dân làng mở hội đánh cá tế thần, người đến xem rất đông vui.
Hôm ấy vào ngày lễ hội, thân mẫu của Trần Văn Huy dọn hàng đến bán nước chè bên bờ đầm Nung, trời trở về chiều gặp cơn mưa to gió lớn, ra về đi không nổi, người đã ngã xuống. Ở trường học về, Trần Văn Huy đi tìm mẹ, đến làng Nung được bà con dân làng nói lại bà cụ đã ngã xuống và được mối đắp cao ba thước còn hở hai bàn chân.
Trần Văn Huy nhận ra đúng là mẹ mình, mọi người khuyên rằng đây là mộ trời cho (thiên táng) nên để nguyên tại chỗ. Trần Văn Huy ra về, lúc này mối lại đắp tiếp kín hai bàn chân. Dân bản địa (xóm Rừng ngày ấy) thấy thế lập miếu thờ nhớ ngày 24 tháng Chạp hàng năm bảo nhau đến thắp hương tưởng niệm, coi bà như một đấng linh thiêng và tôn thờ coi như Thành hoàng làng, rồi sau đó được phát triển tôn tạo thành một ngôi đền gọi là đền Rừng cho mãi về sau.
Sau khi thân mẫu mất, Trần Văn Huy phải chịu đựng, vượt qua nhiều khó khăn gian khổ. Trong lúc thân phụ Trần Quốc Kiệt còn đang lánh nạn ở đất Nghệ An cùng với người con trai thứ - em Trần Văn Huy tên là Trần Hiện.
Với chí lớn tu thân lập nghiệp, Trần Văn Huy gắng công học tập để thành đạt trong khoa bảng. Đời vua Lê Thái Tông năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại bảo thứ 3 (1442), triều đình mở khoa thi Hội, Trần Văn Huy ứng thí đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân.

Gia phả và chính sử đều khẳng định Tiến sĩ Trần Văn Huy (Đặng Hiên) là hậu duệ đời thứ 5 của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Ảnh: Họ Đặng gốc Trần.
Lưỡng quốc Thượng thư, vang danh quốc sử
Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442) là bia số 1 trong hệ thống 82 văn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Văn bia này dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484), do Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung vâng sắc soạn, miêu tả như sau: “Bấy giờ số dự thi đông đến 450 người. Qua bốn trường, lấy trúng cách được 33 người. Quan Hữu ti chuyên trách kê tên dâng lên, Thánh thượng sai chọn ngày ban cho vào sân rồng ứng đối…
Hoàng thượng sáng suốt ngự lãm, xét định thứ bậc cao thấp. Ban cho Nguyễn Trực đỗ Trạng nguyên, Nguyễn Như Đổ đỗ Bảng nhãn, Lương Như Hộc đỗ Thám hoa lang; bọn Trần Văn Huy 7 người đỗ Tiến sĩ, bọn Ngô Sĩ Liên 23 người đỗ Phụ bảng.
Ân ban tước trật để nêu cao nổi bật với dân thường, ban áo mũ cân đai để đẹp cách ăn mặc, cho dự yến vườn Quỳnh để tỏ ơn huệ, cấp ngựa về quê để rõ lòng đặc biệt mến yêu. Kẻ sĩ và dân chúng Trường An đâu đâu cũng tụ tập đến xem, đều ca ngợi Thánh thượng chuộng Nho xưa nay hiếm thấy. Ngày mồng 4, bọn Trạng nguyên Nguyễn Trực lạy chào dâng biểu tạ ơn. Ngày mồng 9, lại vào bệ kiến cáo từ, xin được vinh quy. Đó là khoa thi đầu tiên đời thánh triều được ơn vinh long trọng, đến nay kẻ sĩ vẫn còn tấm tắc ngợi ca...”.

Văn bia đề danh khoa thi năm Nhâm Tuất (1442) – Trần Văn Huy đỗ Tiến sĩ, tên đứng đầu hàng Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp). Ảnh: Họ Đặng gốc Trần.
Sự nghiệp quan trường của Tiến sĩ Trần Văn Huy dù không được ghi chép chi tiết, song cho biết, đến đời vua Lê Nhân Tông năm Quý Dậu niên hiệu Thái Hòa thứ 11 (1453) Trần Văn Huy được cử vào sứ Đoàn sang triều cống vua Minh. Khi hoàn thành nhiệm vụ trở về ông được nhà vua phong chức Thượng thư bộ Hình, tước Dương Khê hầu (đứng đầu Hình bộ, hàm tòng nhị phẩm), đứng vào hàng ngũ quan lại cao cấp của triều đình.
Thời gian đi sứ sang Trung Quốc có nhiều công lao trong việc bang giao hai nước, ông là một nhà nho uyên bác được vua nhà Minh tặng chức Thượng thư, về sau nhân dân xã Quảng Bị thường gọi là Thượng thư lưỡng quốc. Lăng thờ ở làng Bợ cũ có đôi câu đối như sau: “Lưỡng bộ Lê triều ghi quốc sử/ Nhất gia Bị xã tú hương danh”.
Tiến sĩ Trần Văn Huy mất ngày 21 tháng 6 năm Ất Tỵ (1485) được vua ban tên Thụy là Dụ Phúc tướng công, về sau mộ ông được đưa về an táng bên cạnh mộ thân mẫu Trần Thị Hướng. Hiện hai ngôi mộ được đặt sau đền thờ thân mẫu tại thôn Liên Hoa (xã Dân Quyền, Phú Thọ).
Tiến sĩ Trần Văn Huy có tám người con, trong đó có sáu con trai và hai con gái. Trong đó, con trai cả là Đặng Trần Cận đỗ đồng Tiến sĩ năm Kỷ Sửu (1469) đời vua Lê Thánh Tông niên hiệu Quang Thuân thứ 10 đi sứ Trung Quốc được phong chức Lại bộ Thượng thư. Con trai thứ hai là Đặng Trần Du đỗ Giải nguyên, phong ấn triều liệt đại phu, làm quan đến chức Tham nghị.
Con thứ ba là Đặng Trần Lâm được truy phong Thiếu phó Cao quận công. Con gái lớn là Trần Thị Tùng là Hoàng hậu, con gái thứ là Trần Thị Trúc là Thái phi. Về sau, hội đồng gia tộc họ Đặng gốc Trần chắp nối cội nguồn với các chi họ trong cả nước lại tìm thấy thêm ba người con trai nữa của Tiến sĩ Trần Văn Huy là: Đặng Trần Thiếp, Đặng Trần Bình, Đặng Trần Nguyên.

Đền thờ Quan Thượng Bợ và đền thờ thân mẫu Tiến sĩ Trần Văn Huy đã được công nhận di tích văn hóa. Ảnh: Họ Đặng gốc Trần.
Di sản dòng tộc Quan Thượng Bợ
Trải qua những biến động lịch sử kéo dài nhiều thế kỷ, một bộ phận hậu duệ của ông đổi từ họ Trần sang họ Đặng. Việc đổi họ này, theo các tư liệu gia phả và truyền thống dòng họ, gắn với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhằm thích nghi với điều kiện xã hội và bảo toàn dòng tộc. Từ đó hình thành các chi họ Đặng Trần hoặc họ Đặng ở nhiều địa phương khác nhau như Phú Thọ, Hà Nội, Ninh Bình. Dù mang họ khác nhau, các chi họ này vẫn duy trì ý thức rõ ràng về nguồn cội, coi Tiến sĩ Trần Văn Huy (Đặng Hiên), là một trong những bậc tiên hiền.
Một ví dụ điển hình cho sự tiếp nối ấy là chi họ Đặng ở Ba La, nay thuộc phường Kiến Hưng và Dương Nội (Hà Nội). Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, chi họ này không chỉ chú trọng việc thờ cúng tổ tiên mà còn đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng nền tảng văn hóa gia đình. Những giá trị như hiếu nghĩa, trọng học hành, đề cao gia phong và tinh thần đoàn kết được duy trì qua nhiều thế hệ, trở thành sợi dây gắn kết các thành viên dòng họ trong đời sống hiện đại. Điều đó cho thấy ảnh hưởng của Tiến sĩ Trần Văn Huy không chỉ dừng lại ở một giai đoạn lịch sử mà còn lan tỏa lâu dài trong đời sống xã hội.
Cùng với ký ức dòng họ, hệ thống di tích thờ tự gắn với Trần Văn Huy tại Phú Thọ là minh chứng sinh động cho sự tri ân của cộng đồng đối với một danh nhân lịch sử. Tại Phú Thọ hiện nay còn đền thờ Quan Thượng Bợ Trần Văn Huy, được công nhận là di tích văn hóa lịch sử. Ngôi đền là nơi nhân dân địa phương và con cháu dòng họ tưởng nhớ công lao của vị Tiến sĩ - Thượng thư triều Lê, đồng thời là không gian sinh hoạt tín ngưỡng, giáo dục truyền thống hiếu học cho các thế hệ sau.

Mộ phần Tiến sĩ Trần Văn Huy tại Phú Thọ. Ảnh: Họ Đặng gốc Trần.
Đặc biệt, gần đền thờ chính còn có đền thờ thân mẫu của Quan Thượng Bợ là Trần Thị Hướng. Việc thờ phụng riêng người mẹ của một nhà khoa bảng là nét đẹp hiếm gặp, thể hiện sâu sắc đạo hiếu trong văn hóa Việt Nam xưa. Thân mẫu của ông không chỉ được tôn vinh với tư cách người sinh thành mà còn được ghi nhớ như người đã đặt nền móng đạo đức, học vấn cho một trí thức lớn của đất nước.
Sự tồn tại song song của hai ngôi đền thờ danh nhân và thờ thân mẫu tạo thành một quần thể di tích mang giá trị nhân văn sâu sắc, nhấn mạnh vai trò của gia đình trong việc hình thành nhân cách và tài năng con người.
Tiến sĩ Trần Văn Huy là đại diện tiêu biểu cho tầng lớp trí thức nho học thời Lê sơ, những người đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng nhà nước phong kiến tập quyền, củng cố pháp luật và ổn định xã hội sau chiến tranh. Đồng thời, ông cũng là biểu tượng của hành trình vượt khó, thể hiện truyền thống hiếu học, hiếu nghĩa và trọng gia phong. Những giá trị ấy không chỉ được ghi nhận trong sử sách mà còn được lưu giữ trong đời sống gia đình, dòng họ và cộng đồng làng xã.
Trong bối cảnh xã hội đương đại, khi vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa, xây dựng văn hóa gia đình đang được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết, câu chuyện về Quan Thượng Bợ Trần Văn Huy và các thế hệ hậu duệ của ông mang ý nghĩa sâu sắc. Nó cho thấy rằng nền tảng văn hóa gia đình bền vững, được xây dựng trên cơ sở hiếu nghĩa, học vấn và trách nhiệm xã hội, chính là điểm tựa quan trọng để hình thành những con người có ích cho cộng đồng và đất nước.
Hơn năm thế kỷ trôi qua kể từ ngày Tiến sĩ Trần Văn Huy qua đời vào năm 1485, nhưng dấu ấn của ông vẫn hiện diện trong chính sử và đời sống văn hóa. Từ bia đá tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám đến những ngôi đền cổ ở Phú Thọ, từ gia phả họ Đặng đến nếp sinh hoạt văn hóa của các chi họ hậu duệ, hình ảnh Quan Thượng Bợ Trần Văn Huy vẫn được nhắc đến như biểu tượng của trí tuệ, đạo đức và lòng trung hiếu.
Theo cố nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương, bên cạnh tên gọi chính thức trong sử sách, Tiến sĩ Trần Văn Huy còn được người bản địa xa xưa tôn xưng là “Quan Thượng Bợ”. Cách gọi này gắn liền với quê hương làng Bợ, thể hiện mối quan hệ bền chặt giữa một vị quan triều đình và cộng đồng làng xã nơi ông sinh sống. Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, việc nhân dân đặt tên gọi riêng cho một danh nhân thường bởi sự ghi nhận công lao, đức độ và ảnh hưởng tích cực. “Quan Thượng Bợ” vì thế không chỉ là một tên gọi, mà còn là biểu tượng của niềm tự hào, của sự gắn bó giữa tầng lớp trí thức và đời sống dân gian.










