Đền Trúc - Ngũ Động Sơn, nơi tinh hoa hội tụ từ ngàn năm
Quần thể khu di tích đền Trúc - Ngũ Động Sơn, thuộc tổ dân phố (TDP) Thi Sơn 1, phường Lý Thường Kiệt, được bao bọc bởi rừng trúc xanh mát bạt ngàn, tạo nên một khung cảnh thanh bình và tĩnh lặng. Đền Trúc gắn liền với truyền thuyết và lịch sử về những chiến công của anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt thời nhà Lý.

Đền Trúc ẩn mình bên dòng sông Đáy hiền hòa.
Tương truyền, năm 1089, đoàn chiến thuyền của Thái úy Lý Thường Kiệt trên đường chinh phạt phương nam đánh giặc Chiêm Thành, đi ngang qua thôn Quyển Sơn, nay thuộc TDP Thi Sơn 1, phường Lý Thường Kiệt, bỗng một trận gió lớn ào ào thổi tới, bẻ gãy cả cột buồm rồi cuốn lá cờ của đoàn quân lên đỉnh núi. Thấy điều lạ, ông bèn cho thuyền dừng lại, cùng tướng lĩnh lên bờ sửa lễ tế trời đất, cầu cho đại thắng. Ngài đặt đàn tế trong rừng trúc, gần ngôi đền thờ hai mẹ con bà hàng nước. Nửa đêm, hai mẹ con bà hiện lên báo mộng, xin cùng đi theo phù ngài đánh giặc. Từ đó ông đặt tên núi là núi Quyển Sơn (hay Cuốn Sơn, sau nhân dân sợ uy Thái úy nên đọc chệch tên núi thành Cấm Sơn, hay núi Cấm).

Đỉnh núi Cấm, nơi tương truyền đại kỳ của Thái úy Lý Thường Kiệt đã bị gió lớn cuốn lên.
Lần ra quân ấy, Lý Thường Kiệt đã chỉ huy đại quân thắng lớn. Sau chiến thắng, Thái úy Lý Thường Kiệt đã cùng quân sĩ trở lại làm lễ tạ ơn, khao thưởng ba quân và mở hội cho dân làng cùng mừng chiến thắng. Thái úy tấu xin vua phong bà hàng nước là Mẫu hậu, cô con gái là Công chúa và sửa sang lại đền thờ. Để tưởng nhớ công ơn của Thái úy Lý Thường Kiệt, khi Ngài mất, nhân dân đã lập tượng và bài vị để phối thờ Ngài tại đền thờ 2 mẹ con bà hàng nước.

Bên trong cung cấm của đền, tượng Thái úy Lý Thường Kiệt và 2 mẹ con bà hàng nước được phối thờ để nhân dân tưởng nhớ.
Đền Trúc được tu sửa nhiều lần, lần cuối cùng vào những năm đầu của thế kỷ XX. Hiện nay đền còn lại tòa tiền đường và hậu cung. Cổng đền gồm 4 cột đồng trụ, hai cột chính ở giữa, hai cột nhỏ ở hai bên. Qua một sân gạch rộng trên 10m là đến nhà tiền đường. Công trình này gồm 5 gian, xây cao trên mặt sàn được đặt thành 3 cấp, hai đầu hồi bít đốc. Mặt đằng trước hai đầu hồi xây sát tường phía ngoài từ tàu mái đến thềm chính giữa để một cửa sổ hình chữ thọ. Ba gian giữa là hệ thống cửa gỗ được làm vào sát hàng cột quân. Ngôi đền được làm bằng gỗ lim. Ba gian hậu cung cũng được xây dựng cùng phong cách với nhà tiền đường: xây bít đốc, khung gỗ lim, kéo giá chiêng và lợp ngói nam. Ngăn cách giữa nhà tiền đường với hậu cung là một khoảng sân hẹp có tường nối, nhà bán mái và bể non bộ.
Du khách đến với đền Trúc, không chỉ được hòa mình vào không gian thiên nhiên xanh mát bạt ngàn, mà còn được trải nghiệm không khí thiêng liêng lắng đọng.

Lối đi dẫn vào đền được phủ bởi bạt ngàn cây trúc xanh quanh năm.

Nhà tiền đường với kiến trúc độc đáo.
Điểm đặc biệt nữa tại khu di tích Đền Trúc chính là hệ thống hang động độc đáo: 5 hang nối liền nhau, tạo thành động liên hoàn, gọi là Ngũ Động Sơn. Lối vào động ở trên cao, nhìn ra sông Đáy. Lối ra nằm ở bên kia vách núi, do vậy không khí trong động rất thoáng mát. Cấu trúc các động vô cùng đa dạng với nhiều loại thạch nhũ muôn hình vạn trạng, gợi cho du khách sức tưởng tượng phong phú: hình bầu sữa mẹ, nồi cơm mở vung, hình con voi, con rùa... Tương truyền, đây là nơi Thái úy Lý Thường Kiệt tích trữ lương thảo, khí giới khi đánh giặc Chiêm Thành.
Thời kháng chiến chống Pháp, Ngũ Động Sơn được dùng làm nơi để bộ đội ta đóng quân và cất giữ vũ khí, quân dụng.

Lối vào Ngũ Động Sơn.
Kết hợp giữa núi non hùng vĩ, hệ thống hang động độc đáo, cộng với dòng sông Đáy uốn khúc chảy quanh núi Cấm và ngôi đền Trúc yên bình, lặng lẽ ẩn mình giữa rừng trúc bạt ngàn, tất cả tạo nên một quần thể di tích độc đáo bậc nhất của mảnh đất Ninh Bình, đem lại những cảm xúc và trải nghiệm khó quên cho bất cứ ai có dịp được trải nghiệm tham quan.
Không chỉ mang trong mình nét độc đáo về kiến trúc đền và khung cảnh thiên nhiên, đền Trúc còn là nơi phát tích một nền tảng tinh thần của nhân dân TDP Thi Sơn 1 nói riêng, của phường Lý Thường Kiệt nói chung, đó là làn điệu hát Dậm.
Theo tích xưa kể lại, chính Thái úy Lý Thường Kiệt là người đã dạy nhân dân trong vùng những làn điệu hát múa Dậm sau khi đánh thắng giặc Chiêm Thành vào năm 1089 trở về và cũng chính điệu hát Dậm trở thành một nghi lễ quan trọng trong việc vinh danh công lao của Thái úy.
Hát Dậm Quyển Sơn trở thành thể loại âm nhạc dâng lên thần thánh có tính chất dân dã thôn quê mộc mạc, gần gũi dễ nghe, dễ hiểu, dễ hát, dễ nhớ với những người nông dân quanh năm gắn bó ruộng đồng. Gắn bó cả đời với làn điệu hát Dậm, Nghệ nhân ưu tú Trịnh Thị Phẩm nhớ lại, trước đây sau Tết Nguyên đán, ông mõ sẽ đi khắp làng rao nhà nào có con gái thì cho đi hát Dậm thờ thần ở đền. Làng sẽ tuyển chọn khoảng vài ba mươi cô thành lập phường Dậm, tổ chức tập múa hát theo đúng bài bản của nghi lễ.
Ngày nay, đội hát Dậm chỉ chọn 14 cô gái, trong ngày 10 tháng Giêng mở cửa đền, ngày rước kiệu chính hội và ngày đóng cửa đền các cô gái sẽ hát thờ vào buổi sáng, còn việc hát thờ thần vào buổi tối vẫn thực hiện liên tục từ ngày 10 tháng Giêng đến ngày 10 tháng Hai. Xuất thân từ cô gái đồng trinh phục vụ trong đội hát năm nào, nay đã hơn 80 tuổi, Nghệ nhân ưu tú Trịnh Thị Phẩm lại miệt mài sưu tầm, lưu trữ lại những làn điệu của nghê thuật hát Dậm và truyền dạy lại cho lớp thế hệ trẻ trong làng.

Điệu hát Dậm, nét văn hóa đặc sắc chỉ có tại các dịp lễ hội đền Trúc. Cụ Trịnh Thị Phẩm (áo vàng) và bà Đặng Thị Lý (áo đỏ) đứng bắt nhịp cho các cô gái biểu diễn điệu hát dâng Thánh.
Giờ đây, nhà cụ Phẩm trở thành nơi truyền dạy, luyện tập của các cháu học sinh trong làng, vừa là nơi các cháu được vui chơi, sinh hoạt sau những giờ học căng thẳng, nhằm chuẩn bị cho “việc làng”. Các em thấy được niềm vui, niềm tự hào khi góp một phần nhỏ bé vào việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của quê hương.
Theo dòng chảy thời gian, giờ cụ Trịnh Thị Phẩm tuổi đã cao, làn điệu hát Dậm truyền thống của quê hương Quyển Sơn lại được truyền lại cho bà Đặng Thị Lý, thôn Thi Sơn 4, phường Lý Thường Kiệt. Theo bà Lý, hát Dậm đến nay sưu tầm có trên 50 điệu khác nhau, trong đó trên 30 điệu đã được nghiên cứu và ghi lại thành bản nhạc.

Bà Đặng Thị Lý cùng đoàn hát Dậm tham gia Liên hoan nghệ thuật quần chúng tỉnh Hà Nam năm 2023.
“Mỗi làn điệu lại có một nội dung và nghệ thuật thể hiện khác nhau. Vui có, buồn có, có bi có hùng, có dài có ngắn, có êm xuôi phẳng lặng có gập ghềnh trắc trở, với đủ sắc màu của cuộc sống nội tâm, phản ánh chân thực đời sống kinh tế-xã hội, tôn giáo của người dân xưa kia thông qua những điệu hát múa” - bà Đặng Thị Lý chia sẻ.
Ngày nay, trước sự phát triển của du lịch và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích đền Trúc - Ngũ Động Sơn được chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm. Trong đó, phường Lý Thường Kiệt đã tập trung phát triển du lịch đền Trúc gắn với các địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng khác như Chùa Bái Đính, chùa Hương, chùa Bà Đanh, chùa Tam Chúc,… tạo thành chuỗi du lịch tâm linh.
Mặt khác, với đặc thù và lợi thế về cảnh quan thiên nhiên và nền tảng văn hóa phi vật thể độc đáo, đền Trúc được quy hoạch thành điểm nhấn trong phát triển du lịch, văn hóa, góp phần quảng bá, phát huy giá trị di tích lịch sử trong toàn tỉnh Ninh Bình.

Cảnh quan xung quanh khu di tích đền Trúc.
Ông Phạm Hữu Thành, Phó Chủ tịch UBND phường Lý Thường Kiệt cho biết, cùng với hệ thống cảnh quan thiên nhiên độc đáo của đền Trúc, năm 2019, hát Dậm Quyển Sơn được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia, loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian. Đây là lợi thế lớn để đưa đền Trúc - Ngũ Động Sơn trở thành điểm nhấn trong phát triển du lịch tâm linh của địa phương, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống độc đáo và làm giàu thêm kho tàng văn hóa của Ninh Bình.
Đi qua nhiều thăng trầm lịch sử nhưng với những giá trị nội sinh, đền Trúc - Ngũ Động Sơn vẫn giữ nguyên giá trị di tích, văn hóa. Ngôi đền ẩn mình giữa thiên nhiên ấy vẫn trường tồn, như một minh chứng cho sự bền bỉ của văn hóa Việt: giản dị, sâu sắc và đầy nhân văn. Qua đây, cần sự chung tay trong bảo tồn, phát huy giá trị di tích đền Trúc, gắn với phát triển du lịch bền vững, góp phần đa dạng và làm dày thêm nền văn hóa đặc sắc của mảnh đất và con người Ninh Bình trong thời đại mới.
