Đo lường giá trị của di sản để phát huy sức mạnh kinh tế di sản
HNN - Trong bối cảnh phát triển mới, di sản không chỉ là đối tượng cần gìn giữ mà còn là nguồn vốn văn hóa, là tài sản chiến lược có khả năng tạo ra giá trị gia tăng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế.

Các nghệ sĩ của Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Cung đình Huế biểu diễn tiết mục hát múa “Thiên địa giao hòa” tại Nhà hát Duyệt Thị Đường - Đại Nội Huế. Ảnh: Liên Minh
Điều đáng nói là lâu nay, khi đề cập đến giá trị kinh tế của di sản, chúng ta thường chỉ nhìn vào doanh thu bán vé tham quan. Cách tính ấy quá hẹp và không phản ánh đúng vai trò của di sản trong nền kinh tế.
Một di sản thế giới như Quần thể di tích Cố đô Huế không chỉ tạo nguồn thu từ vé tham quan, mặc dù nguồn thu này không hề nhỏ (năm 2025 đạt hơn 473 tỷ đồng; năm 2026 dự kiến đạt trên 500 tỷ đồng). Trên thực tế, giá trị của nó còn lan tỏa tới hệ thống khách sạn, nhà hàng, vận tải, thương mại, thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật biểu diễn, xuất bản, điện ảnh, thiết kế sáng tạo, quảng bá hình ảnh địa phương, thu hút đầu tư, thậm chí góp phần nâng cao giá trị bất động sản và chất lượng không gian đô thị.
Mỗi đồng chi tiêu của du khách khi đến Huế thường tiếp tục tạo ra nhiều đồng giá trị gia tăng trong các ngành kinh tế khác. Đó mới là bức tranh đầy đủ của kinh tế di sản. Cũng chính vì vậy, tổng doanh thu của ngành du lịch Huế năm 2025 chắc chắn sẽ vượt xa con số 13.000 tỷ đồng như báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Quan trọng hơn, di sản còn tạo ra những giá trị khó quy đổi thành tiền nhưng có ý nghĩa lâu dài đối với sự phát triển. Đó là bản sắc văn hóa, niềm tự hào cộng đồng, chất lượng giáo dục, sức hấp dẫn của đô thị, sự gắn kết xã hội, uy tín quốc tế và sức mạnh mềm của địa phương. Chính những giá trị ấy làm nên sức cạnh tranh khác biệt mà không một ngành công nghiệp nào có thể thay thế.
Đó cũng là lý do vì sao nhiều quốc gia đã thay đổi căn bản cách tiếp cận. UNESCO, OECD và nhiều nền kinh tế phát triển không còn xem chi phí dành cho bảo tồn là khoản chi tiêu thuần túy, mà coi đó là đầu tư vào vốn văn hóa (cultural capital). Một khi đã coi di sản là vốn, thì việc đánh giá hiệu quả đầu tư và lượng hóa giá trị trở thành yêu cầu tất yếu.
Ở Việt Nam, quá trình này mới chỉ bắt đầu. Ngành du lịch đã từng bước tiếp cận mô hình Tài khoản vệ tinh du lịch (Tourism Satellite Account - TSA) để xác định đóng góp thực chất của du lịch đối với GDP. Đồng thời, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa cũng đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cho các lĩnh vực văn hóa. Đây là những bước tiến đáng ghi nhận.
Tuy nhiên, cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa có một bộ công cụ đánh giá giá trị kinh tế của di sản mang tính thống nhất. Phần lớn các báo cáo vẫn tập trung vào số lượng khách, doanh thu bán vé hoặc doanh thu du lịch. Trong khi đó, những tác động lan tỏa của di sản đối với việc làm, đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp, sức hấp dẫn đầu tư, thương hiệu địa phương hay chất lượng sống của cộng đồng gần như chưa được lượng hóa một cách đầy đủ.
Khoảng trống này cũng chính là cơ hội để Huế khẳng định vai trò tiên phong.
Là đô thị di sản đầu tiên của Việt Nam trực thuộc Trung ương, đồng thời sở hữu hệ thống di sản vật thể và phi vật thể đặc biệt phong phú, trong đó có 8 danh hiệu UNESCO, Huế có đủ điều kiện để trở thành địa phương đầu tiên xây dựng Bộ chỉ số kinh tế di sản. Đây không chỉ là một công cụ thống kê, mà còn là nền tảng khoa học cho quản trị phát triển.
Theo đó, việc đánh giá cần được thực hiện trên ít nhất năm nhóm giá trị.
Thứ nhất là giá trị kinh tế trực tiếp từ hoạt động bảo tồn, khai thác và sử dụng di sản.
Thứ hai là giá trị lan tỏa tới các ngành du lịch, dịch vụ và công nghiệp văn hóa.
Thứ ba là giá trị tạo việc làm, thúc đẩy doanh nghiệp sáng tạo và sinh kế cộng đồng.
Thứ tư là giá trị về môi trường, cảnh quan, phát triển đô thị và phát triển bền vững.
Cuối cùng là giá trị thương hiệu, sức mạnh mềm, năng lực cạnh tranh và khả năng thu hút đầu tư của địa phương.
Quan trọng hơn, bộ chỉ số này cần được xây dựng trên nền tảng dữ liệu số, cập nhật thường xuyên và có khả năng tích hợp với hệ thống thống kê quốc gia. Khi đó, các nhà quản lý sẽ không chỉ biết di sản tạo ra bao nhiêu doanh thu, mà còn biết mỗi đồng đầu tư cho bảo tồn tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng đối với toàn bộ nền kinh tế và xã hội.

Khách du lịch trải nghiệm hoạt động đi thuyền khám phá Rú Chá. Ảnh: Hữu Phúc
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đây là hướng đi hoàn toàn khả thi. Anh, Ý, Hàn Quốc, Nhật Bản hay nhiều quốc gia châu Âu đã sử dụng các phương pháp phân tích đầu vào - đầu ra, phân tích chi phí - lợi ích, định giá ngẫu nhiên và tài khoản vệ tinh văn hóa để lượng hóa đóng góp của di sản. Chính những bằng chứng khoa học ấy đã giúp thay đổi nhận thức của các nhà hoạch định chính sách, tạo cơ sở để tăng đầu tư cho văn hóa, đồng thời thu hút mạnh mẽ nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân tham gia bảo tồn, phát huy giá trị di sản.
Đối với Huế, việc tiên phong xây dựng mô hình đánh giá kinh tế di sản còn mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi địa phương. Đây có thể trở thành kinh nghiệm để xây dựng bộ tiêu chí quốc gia, phục vụ triển khai Luật Di sản văn hóa năm 2024, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong giai đoạn mới.
Điều cần nhấn mạnh là đo lường giá trị kinh tế của di sản không phải để thương mại hóa di sản, càng không nhằm quy đổi mọi giá trị văn hóa thành tiền. Ngược lại, đó là cách để nhận diện đầy đủ hơn những đóng góp nhiều chiều của di sản đối với phát triển, từ đó có chính sách đầu tư hợp lý, cơ chế quản trị hiệu quả và phương thức bảo tồn bền vững hơn.
Có một nguyên lý nổi tiếng trong quản trị hiện đại: “Không thể quản lý những gì không đo lường được”. Đối với di sản, điều này càng đúng. Khi chưa lượng hóa được giá trị, chúng ta khó xác định đúng mức đầu tư; khi chưa chứng minh được đóng góp, rất khó huy động nguồn lực xã hội; và khi chưa nhìn nhận di sản như một nguồn vốn phát triển, kinh tế di sản sẽ khó có thể trở thành một trụ cột của công nghiệp văn hóa.
Huế đang đứng trước một cơ hội đặc biệt. Từ một địa phương đi đầu trong bảo tồn di sản, Huế hoàn toàn có thể trở thành địa phương tiên phong trong quản trị kinh tế di sản. Nếu làm được điều đó, Huế sẽ không chỉ tạo ra một mô hình phát triển mới cho chính mình mà còn đóng góp một kinh nghiệm có giá trị cho cả nước trong quá trình hiện thực hóa khát vọng phát triển bằng sức mạnh văn hóa.
Bởi suy cho cùng, chỉ khi đo được giá trị của di sản, chúng ta mới quản trị được tài sản di sản; và chỉ khi quản trị tốt tài sản ấy, di sản mới thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển của kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa trong thế kỷ XXI.


