Thanh Hóa tháo điểm nghẽn - từ khơi thông nguồn lực đến tạo động lực tăng trưởng mới
Thanh Hóa đang bước vào một giai đoạn phát triển mà bài toán không còn chủ yếu là tìm kiếm thêm nguồn lực, mà ngày càng đặt ra yêu cầu sử dụng nhanh hơn, hiệu quả hơn những nguồn lực đang có. Khu Kinh tế Nghi Sơn, cảng biển nước sâu, hệ thống công nghiệp, quỹ đất, nguồn nhân lực và thị trường lớn tạo cho tỉnh những lợi thế quan trọng. Giai đoạn 2021-2025, GRDP tăng bình quân 9,05%/năm; quy mô kinh tế năm 2025 gấp khoảng 1,8 lần năm 2020.

Cảng Nghi Sơn đang được kỳ vọng trở thành trung tâm giao thương quốc tế của khu vực Bắc Trung bộ. Ảnh: Minh Hằng
6 tháng đầu năm 2026, GRDP tăng 7,21%, trong đó công nghiệp - xây dựng tăng 9,67%. Đây là kết quả tích cực trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và mục tiêu tăng trưởng 11% của cả năm. Để hoàn thành mục tiêu này, theo tính toán của ngành thống kê, GRDP 6 tháng cuối năm phải tăng khoảng 14,44%.
Khoảng cách giữa nguồn lực đang có và giá trị thực tế được tạo ra từ nguồn lực ấy đặt ra một câu hỏi quan trọng: Thanh Hóa còn đang bị nghẽn ở đâu và phải làm gì để nguồn lực chuyển hóa nhanh hơn thành tăng trưởng?
Những chuyển động gần đây cho thấy tỉnh đang đi thẳng vào câu hỏi đó. Hàng trăm dự án tồn đọng được rà soát; khó khăn về đất đai, giải phóng mặt bằng (GPMB), quy hoạch, vật liệu, thủ tục và vốn được tập trung xử lý; phương thức chỉ đạo, điều hành chuyển mạnh theo hướng rõ trách nhiệm, thời hạn và sản phẩm. Điều đáng chú ý không chỉ là số dự án được tháo gỡ, mà là một cách tiếp cận ngày càng rõ: tháo điểm nghẽn không phải để hoàn thành thêm một thủ tục; mục tiêu cuối cùng phải là đưa nguồn lực đang bị giữ lại trở lại nền kinh tế và tạo ra giá trị mới.
Nhận diện đúng điểm nghẽn, khơi thông đúng nguồn lực
Một dự án chậm tiến độ thường được nhìn thấy qua mặt bằng chưa giải phóng, công trường chưa triển khai hoặc thiết bị chưa vận hành. Nhưng phần chìm của nó lớn hơn nhiều. Phía sau một dự án chưa triển khai có thể là đất chưa được sử dụng hiệu quả, vốn chưa được đưa vào đầu tư, hạ tầng chưa hình thành, việc làm và năng lực sản xuất mới chưa xuất hiện. Khi hàng trăm dự án cùng mắc lại, lượng nguồn lực bị giữ lại là rất lớn.
Thanh Hóa đã rà soát 303 dự án tồn đọng, kéo dài, có khó khăn, vướng mắc để tập trung xử lý. Những nguyên nhân nổi lên gồm GPMB; đất đai và giá đất; quy hoạch; tái định cư; thủ tục đầu tư; vật liệu; vốn; năng lực chủ đầu tư và sự phối hợp giữa các cơ quan.
Các điểm nghẽn này thường liên kết thành chuỗi. Một dự án chưa GPMB được có thể do khu tái định cư chưa hoàn thành; tái định cư lại phụ thuộc quy hoạch và thủ tục đất đai. Quy hoạch chậm thì đất khó giao; đất chưa giao, doanh nghiệp chưa thể đầu tư; dự án chưa hình thành, vốn và năng lực sản xuất tiếp tục nằm ngoài nền kinh tế. Vì vậy, cần vượt khỏi cách giải quyết từng hồ sơ riêng lẻ để nhận diện chuỗi điểm nghẽn đang cản nguồn lực đi từ quyết định đầu tư đến sản xuất thực tế.
Kết quả mới nhất cho thấy chuyển biến rất rõ. Đến hết tháng 8/2026, Thanh Hóa đã tháo gỡ dứt điểm 287/303 dự án, đạt gần 95%; giải phóng nguồn vốn đầu tư hơn 236.600 tỷ đồng và gần 2.000ha đất. Nhưng cần hiểu đúng bản chất của những con số này. Việc tháo gỡ vướng mắc không có nghĩa toàn bộ hơn 236.600 tỷ đồng lập tức được giải ngân hoặc gần 2.000ha đất ngay lập tức tạo ra giá trị kinh tế. Giá trị quan trọng nhất là các nguồn lực đó được tạo điều kiện thoát khỏi trạng thái đình trệ để tiếp tục đi vào đầu tư và sản xuất. Nói cách khác, tháo điểm nghẽn không tạo thêm đất và vốn, nhưng có thể đánh thức đất và vốn đang bị “đóng lại”. Đây chính là ý nghĩa kinh tế sâu hơn của quá trình Thanh Hóa đang thực hiện.
Tháo "Điểm nghẽn của các điểm nghẽn"
Đất đai, quy hoạch, GPMB, vốn hay vật liệu là những điểm nghẽn dễ nhìn thấy. Nhưng phía sau chúng còn một điểm nghẽn ít hữu hình hơn: năng lực tổ chức thực hiện.
Một hồ sơ phải đi qua nhiều cơ quan nhưng không xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm cuối cùng sẽ chậm. Một dự án được đưa ra họp nhiều lần nhưng không gắn với người xử lý, thời hạn và sản phẩm cụ thể cũng khó tạo chuyển biến.
Bởi vậy, phương thức điều hành theo nguyên tắc “6 rõ” - rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ sản phẩm có ý nghĩa lớn hơn một yêu cầu hành chính. Bản chất của nó là chuyển từ quản lý quá trình sang quản trị kết quả.
Cải cách thủ tục đất đai cho thấy rõ giá trị kinh tế của cách tiếp cận này. Việc tái cấu trúc 22 nhóm thủ tục liên quan khoảng 228.250 hồ sơ mỗi năm được tính toán giúp thời gian tuân thủ bình quân giảm từ 16,05 xuống 7,04 giờ/hồ sơ, giảm 56,1%; chi phí tuân thủ giảm khoảng 114,2 tỷ đồng/năm.
Điều đó cho thấy cải cách hành chính cũng có thể tạo ra giá trị kinh tế. Mỗi giờ doanh nghiệp không phải chờ đợi là thời gian có thể dành cho sản xuất, kinh doanh; mỗi khoản chi phí tuân thủ được cắt giảm là một phần nguồn lực được trả lại cho xã hội.
Nhưng kết quả giải ngân đầu tư công đến ngày 4/9/2026 cũng cho thấy khâu thực thi vẫn còn khoảng trống. Tổng kế hoạch vốn năm 2026, gồm cả vốn năm 2025 kéo dài, là 19.347,862 tỷ đồng; giải ngân đạt 8.248,674 tỷ đồng, bằng 42,63% kế hoạch, thấp hơn chỉ tiêu giao đến ngày 30/8 khoảng 1.505,358 tỷ đồng.
Đáng chú ý, mức tăng giải ngân 376,602 tỷ đồng so với ngày 29/8 có 332,038 tỷ đồng do Kho bạc Nhà nước Khu vực XI cập nhật lại số giải ngân của các xã; phần tăng tại các ban quản lý dự án chỉ 44,564 tỷ đồng. Ở cấp xã còn khoảng 755,9 tỷ đồng vốn GPMB các dự án giao thông chưa giải ngân. Những con số này cho thấy một vấn đề rất thực tế: điểm nghẽn đôi khi không nằm ở chỗ thiếu tiền, mà ở khả năng làm cho đồng tiền đã có đi được đến công trình và tạo ra giá trị đúng thời hạn. Vì vậy, cùng với tháo vướng mắc pháp lý, Thanh Hóa cần tiếp tục tháo “điểm nghẽn của các điểm nghẽn”: trách nhiệm, phối hợp, thời gian xử lý và năng lực thực thi ở từng cấp.
Khơi thông dự án phải đi cùng nuôi dưỡng doanh nghiệp
8 tháng năm 2026, tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn Thanh Hóa đạt 44.358,7 tỷ đồng. Trong so sánh với Nghệ An, Ninh Bình và Hà Tĩnh, Thanh Hóa đứng đầu 4/6 chỉ tiêu được khảo sát gồm thu ngân sách Nhà nước, thu tiền sử dụng đất, diện tích GPMB và làm sạch cơ sở dữ liệu đất đai. Tỷ lệ làm sạch dữ liệu đất đai đạt 92,27% số thửa, xếp thứ 7/34 tỉnh, thành phố. Đây là những kết quả đáng ghi nhận. Nhưng câu hỏi sâu hơn vẫn là: sau khi dự án được tháo gỡ, doanh nghiệp có khỏe hơn và nguồn lực có tạo ra năng suất cao hơn hay không?
Một địa phương có thể rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp nhưng điều đó chưa đồng nghĩa đã hình thành được một khu vực kinh tế tư nhân mạnh. Sau khi gia nhập thị trường, doanh nghiệp còn phải vượt qua những điểm nghẽn về vốn, công nghệ, nhân lực, thị trường, logistics, quản trị và khả năng tham gia chuỗi cung ứng. Vì vậy, Thanh Hóa cần chuyển từ mục tiêu “giúp doanh nghiệp vào được thị trường” sang “tạo điều kiện để doanh nghiệp sống được, lớn được và đi lên trong chuỗi giá trị”.
Điều này đặc biệt quan trọng với một địa phương có Khu Kinh tế Nghi Sơn và nhiều dự án công nghiệp quy mô lớn. Xung quanh lọc hóa dầu, luyện kim, năng lượng, cảng biển, chế biến, dệt may và các doanh nghiệp FDI cần từng bước hình thành mạng lưới doanh nghiệp Thanh Hóa đủ năng lực cung ứng sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật, công nghệ và logistics.
Nếu các dự án lớn phát triển nhưng phần lớn đầu vào, dịch vụ hỗ trợ và giá trị gia tăng vẫn nằm ngoài doanh nghiệp địa phương thì hiệu ứng lan tỏa đối với nền kinh tế tỉnh sẽ bị hạn chế. Bởi vậy, thước đo cuối cùng của cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh không chỉ là số hồ sơ được giải quyết nhanh hơn hay số dự án được tháo gỡ. Phải đo bằng sức khỏe doanh nghiệp, năng suất, khả năng đổi mới, chất lượng việc làm và mức độ tham gia của doanh nghiệp Thanh Hóa vào các chuỗi giá trị lớn.
Từ tháo điểm nghẽn đến tạo động lực tăng trưởng mới
Đây là bài toán khó hơn. Mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 của Thanh Hóa là 11%. Sau khi 6 tháng đầu năm tăng 7,21%, 6 tháng cuối năm cần tăng khoảng 14,44%; riêng công nghiệp cần tăng 22,18%. Khoảng cách này cho thấy xử lý các dự án tồn đọng là rất quan trọng nhưng chưa đủ. Nguồn lực được tháo ra phải nhanh chóng chuyển thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng thực tế.
Trước hết, tỉnh nên xây dựng “Bản đồ điểm nghẽn và nguồn lực Thanh Hóa” như một công cụ quản trị phát triển thường xuyên. Không chỉ thống kê dự án chậm, bản đồ cần trả lời ít nhất 5 câu hỏi: nguồn lực nào đang bị giữ lại; quy mô bao nhiêu; mắc ở khâu nào; ai chịu trách nhiệm tháo gỡ; đến thời điểm nào phải tạo ra kết quả?
Bản đồ nên được số hóa, trước hết đối với Khu Kinh tế Nghi Sơn, đầu tư công, các dự án lớn, đất công nghiệp, GPMB và hạ tầng chiến lược. Khi đó, lãnh đạo tỉnh không chỉ biết còn bao nhiêu dự án chậm mà có thể nhìn thấy bao nhiêu héc-ta đất, bao nhiêu tỷ đồng vốn và bao nhiêu năng lực sản xuất đang bị giữ lại ở từng khâu.
Thứ hai, biến “6 rõ” thành cơ chế quản trị thường xuyên. Đánh giá cơ quan và người đứng đầu cần gắn nhiều hơn với thời gian giải quyết vấn đề, chất lượng phục vụ và kết quả cuối cùng. Đối với dự án lớn, cần tiến tới cảnh báo sớm: một công việc sắp quá hạn phải được nhận diện trước khi trở thành dự án tồn đọng.
Thứ ba, chuyển mạnh từ khơi thông dự án sang nâng cao năng suất và sức mạnh doanh nghiệp. Thanh Hóa cần phát triển các nhà cung cấp địa phương gắn với những chuỗi công nghiệp lớn; hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn hóa quản trị, chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực, tiếp cận tín dụng và đáp ứng tiêu chuẩn của doanh nghiệp đầu chuỗi, doanh nghiệp FDI. Nhà nước không làm thay doanh nghiệp, nhưng phải tạo môi trường để doanh nghiệp có khả năng lớn lên.
Thứ tư, phát triển Nghi Sơn - cảng biển - logistics - công nghiệp như một hệ sinh thái thống nhất. Cảng biển phải được kết nối hiệu quả với đường bộ, đường sắt, kho vận, khu công nghiệp, dịch vụ và hạ tầng số. Khi đó lợi thế cảng nước sâu mới thực sự chuyển hóa thành lợi thế logistics và sức hấp dẫn đầu tư của cả tỉnh.
Cùng với “KPI tăng trưởng”, Thanh Hóa cần coi trọng hơn KPI chất lượng tăng trưởng: năng suất lao động; tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới công nghệ; thời gian từ quyết định đầu tư đến vận hành; tỷ lệ đất công nghiệp thực sự được sử dụng; chi phí logistics; mức độ tham gia của doanh nghiệp địa phương vào chuỗi cung ứng; thu nhập và chất lượng việc làm.
Riêng đầu tư công, không nên chỉ đo bao nhiêu phần trăm vốn đã giải ngân, mà phải đo thêm công trình hoàn thành khi nào và hiệu quả kinh tế - xã hội tạo ra sau đầu tư. Đó là bước chuyển từ quản lý tốc độ tăng trưởng sang quản trị năng lực tạo ra tăng trưởng.
Kết quả 287/303 dự án được tháo gỡ, liên quan hơn 236.600 tỷ đồng vốn và gần 2.000ha đất, cho thấy Thanh Hóa đã tạo được một bước tiến rất đáng ghi nhận. Nhưng giá trị cuối cùng của quá trình này không nằm ở con số 287. Một héc-ta đất chỉ thực sự tạo giá trị khi trên đó hình thành hoạt động kinh tế hiệu quả. Một dự án chỉ thực sự được “tháo” khi đi vào vận hành. Một đồng vốn chỉ thực sự phát huy tác dụng khi tạo ra công trình, sản phẩm, việc làm và giá trị gia tăng.
Vì vậy, nếu giai đoạn đầu là giải phóng đất, vốn và dự án, thì giai đoạn tiếp theo phải là giải phóng năng suất, sức sáng tạo và năng lực doanh nghiệp. Khi đó, tháo điểm nghẽn sẽ không chỉ là xử lý những tồn tại cũ, mà trở thành một phương thức quản trị phát triển mới: nhận diện đúng nơi nguồn lực đang bị giữ lại, tháo đúng điểm nghẽn, đưa nguồn lực vào vận động nhanh hơn và chuyển hóa chúng thành những động lực tăng trưởng mới, mạnh hơn và bền vững hơn cho Thanh Hóa.

