Góc nhìn văn hoá: Sửa Luật Đất đai cần giải quyết căn bản các điểm nghẽn thực tiễn
Đất đai trong đời sống người Việt chưa bao giờ chỉ là một loại tài sản hay một nguồn lực kinh tế. Đó còn là nơi ở, kế sinh nhai, ký ức gia đình, không gian cộng đồng và trong nhiều trường hợp là thành quả được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Bởi vậy, mỗi lần sửa đổi pháp luật về đất đai không chỉ là một lần điều chỉnh các quy định quản lý nhà nước, mà còn là quá trình điều chỉnh những quan hệ xã hội rất sâu sắc, liên quan trực tiếp đến niềm tin, sự công bằng và đồng thuận của người dân.
Phiên thảo luận của Quốc hội sáng 21/8 về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 đưọc dư luận xã hội rất quan tâm. Tổng hợp ý kiến các đại biểu Quốc hội phát biểu thảo luận tại hội trường cho thấy một nhận thức ngày càng rõ: Những điểm nghẽn của đất đai không thể chỉ được xử lý bằng vài điều khoản kỹ thuật. Muốn khơi thông nguồn lực đất đai cho phát triển, cần thay đổi căn bản tư duy quản trị, đồng thời giải quyết những vấn đề đã bộc lộ từ thực tiễn về quy hoạch, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, tái định cư, thủ tục hành chính, phân cấp và kiểm soát quyền lực.

Quang cảnh phiên họp Quốc hội khoá XVI Kỳ họp không thường lệ thứ nhất sáng 21/8/2026 thảo luận sửa đổi Luật Đất đai. Ảnh: TTXVN.
Đáng chú ý, Quốc hội nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý hành chính về đất đai sang quản trị hiện đại, từ “quản lý an toàn” sang “kiến tạo phát triển”, lấy hiệu quả sử dụng đất làm thước đo chính sách. Đây không đơn thuần là sự thay đổi thuật ngữ. Về bản chất, đó là sự thay đổi cách nhìn về đất đai: từ một đối tượng cần quản lý sang một nguồn lực phải được sử dụng hiệu quả, minh bạch và công bằng.
Từ “bồi thường tài sản” đến “tái thiết cuộc sống”: thay đổi một tư duy văn hóa
Trong văn hóa Việt Nam, đất gắn với “quê cha đất tổ”, với ngôi nhà, mảnh vườn, ruộng đồng và mạng lưới quan hệ cộng đồng. Vì thế, một quyết định thu hồi đất dù đúng về mặt pháp lý vẫn có thể tạo ra những chấn động rất lớn về đời sống nếu chính sách chỉ nhìn người dân như chủ sở hữu của một tài sản cần được định giá và bồi thường.
Đây chính là điểm có ý nghĩa văn hóa sâu sắc trong định hướng lần này: chuyển mạnh từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang “tái thiết cuộc sống” cho người dân.
Một khoản tiền có thể bù đắp giá trị của căn nhà, thửa đất trên giấy tờ, nhưng không dễ dàng bù đắp được một sinh kế, một môi trường sống hay những mối quan hệ cộng đồng đã hình thành trong nhiều năm. Một hộ nông nghiệp mất đất sản xuất không chỉ mất một diện tích đất; họ có thể mất luôn phương thức tạo thu nhập quen thuộc. Một gia đình chuyển đến khu tái định cư không chỉ cần một căn hộ hoặc một lô đất; họ cần trường học cho con, cơ sở y tế, giao thông, dịch vụ, việc làm và một cộng đồng sống có thể thích nghi.
Vì vậy, “tái thiết cuộc sống” cần được biến thành những tiêu chí cụ thể, có thể kiểm tra và đánh giá: nơi ở mới phải phù hợp, hạ tầng phải đồng bộ, khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu phải được bảo đảm, sinh kế và thu nhập phải được tính đến. Với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp phải đi cùng khả năng tạo thu nhập lâu dài, chứ không thể dừng ở những khoản hỗ trợ mang tính ngắn hạn.
Ở góc độ văn hóa, đây cũng là cách xây dựng sự đồng thuận xã hội. Người dân sẽ dễ chấp nhận một sự thay đổi lớn khi họ cảm nhận rằng Nhà nước không chỉ thu hồi một tài sản, mà thực sự có trách nhiệm với cuộc sống của họ sau thu hồi.
Cùng với đó, việc thu hồi đất cần gắn với tổ chức lại không gian phát triển. Một tuyến đường mới không nên chỉ được tính bằng số mét vuông đất cần giải phóng. Nếu sau dự án còn lại những thửa đất méo mó, manh mún, khó tiếp cận hoặc không thể tiếp tục sản xuất, thì bài toán phát triển vẫn chưa được giải quyết trọn vẹn.
Điều đó cho thấy quản trị đất đai phải có tầm nhìn không gian và dài hạn hơn. Phát triển một công trình không chỉ là tạo ra công trình, mà còn là tổ chức lại không gian sống, sản xuất và cộng đồng xung quanh nó.
Giá đất phải minh bạch, phân quyền phải đi cùng kiểm soát quyền lực
Giá đất là một điểm nghẽn khác có ý nghĩa đặc biệt, bởi nó nằm ở giao điểm giữa lợi ích Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Giá quá thấp có thể gây thất thu ngân sách, tạo chênh lệch địa tô bất hợp lý; nhưng giá quá cao lại đẩy chi phí sản xuất, đầu tư và nhà ở lên, cuối cùng người dân phải gánh chịu.
Vì thế, điều cần hướng tới không phải đơn giản là “giá đất cao hơn”, mà là giá đất đúng hơn.
Muốn vậy, bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất phải dựa trên dữ liệu đáng tin cậy, có phương pháp rõ ràng, có khả năng kiểm chứng và được rà soát định kỳ. Một hệ thống định giá thiếu minh bạch không chỉ tạo ra rủi ro kinh tế mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận công bằng của xã hội. Khi hai trường hợp tương đồng nhưng có kết quả bồi thường khác nhau chỉ vì khác thời điểm xử lý, tâm lý so bì và khiếu kiện rất dễ phát sinh.
Đây là vấn đề văn hóa pháp lý: gười dân cần cảm nhận rằng pháp luật được áp dụng nhất quán, công bằng và có thể dự đoán.
Cùng với giá đất là bài toán địa tô chênh lệch. Khi Nhà nước đầu tư hạ tầng, mở đường, thay đổi quy hoạch, giá trị đất có thể tăng lên rất lớn. Nếu phần giá trị tăng thêm ấy không được điều tiết hợp lý để tái đầu tư cho xã hội, sự bất bình đẳng trong phân bổ lợi ích từ phát triển sẽ ngày càng rõ. Do đó, những công cụ tài chính đối với đất bỏ hoang, chậm đưa vào sử dụng, cũng như cơ chế điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất cần được nghiên cứu thấu đáo.
Một điểm quan trọng khác là phân cấp, phân quyền. Đất đai là lĩnh vực mà một quyết định hành chính có thể làm dịch chuyển giá trị kinh tế rất lớn. Vì vậy, phân quyền mạnh hơn cho địa phương là cần thiết để giảm tầng nấc, rút ngắn thủ tục và nâng cao tính chủ động. Nhưng quyền lực được trao càng lớn thì cơ chế kiểm soát càng phải rõ.
Chuyển đổi số trong quản lý đất đai vì thế không nên chỉ hiểu là số hóa hồ sơ hay đưa thủ tục lên môi trường trực tuyến. Quan trọng hơn là số hóa quá trình thực thi quyền lực: Dữ liệu quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, giá đất, nghĩa vụ tài chính và biến động sử dụng đất phải từng bước được liên thông, minh bạch và có khả năng truy xuất trách nhiệm.
Kết luận phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành Phiên họp cho biết, đã có 30 đại biểu phát biểu trực tiếp, 14 đại biểu đăng ký nhưng chưa được phát biểu. Hầu hết ý kiến thống nhất với định hướng chính sách và sự cần thiết, cấp bách phải sửa đổi toàn diện Luật Đất đai năm 2024.
Quốc hội đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, hoàn thiện hồ sơ và cụ thể hóa các chính sách trong dự thảo Luật Đất đai, trong đó quán triệt sâu sắc quan điểm của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, nhất là Nghị quyết số 21.
Một trong những định hướng được nhấn mạnh là thay đổi tư duy quản lý hành chính về đất đai sang quản trị hiện đại, từ quản lý an toàn sang kiến tạo phát triển, lấy hiệu quả sử dụng đất làm thước đo chính sách.
Theo định hướng này, đất đai được xác định là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, tư liệu sản xuất đặc biệt và nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước. Quyền sử dụng đất là yếu tố đầu vào quan trọng cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.
Sửa Luật Đất đai lần này vì thế cần được nhìn như một cuộc cải cách về văn hóa quản trị nguồn lực. Đó là văn hóa minh bạch thay cho xin - cho; trách nhiệm giải trình thay cho quyết định khó kiểm chứng; đối thoại và tái thiết cuộc sống thay cho cách tiếp cận thuần túy hành chính; sử dụng hiệu quả đất đai thay cho tư duy chạy theo diện tích.
Thước đo cuối cùng của một đạo luật đất đai tốt không phải là sửa được bao nhiêu điều khoản hay cắt giảm được bao nhiêu thủ tục. Đó phải là câu hỏi: Người dân có được bảo vệ tốt hơn không, doanh nghiệp có tiếp cận đất đai bình đẳng và dự đoán được luật chơi không, Nhà nước có chống được thất thoát và điều tiết tốt hơn giá trị gia tăng từ đất không, và những nguồn lực đang bị bỏ hoang có thực sự được đưa vào phát triển hay không.
Nếu giải quyết được những câu hỏi ấy, sửa Luật Đất đai mới thực sự vượt qua việc “gỡ vướng” trước mắt để tạo dựng một nền quản trị đất đai hiện đại, công bằng và có trách nhiệm với tương lai. Bởi suy cho cùng, quản trị đất đai cũng là quản trị niềm tin xã hội — mà niềm tin ấy chỉ bền vững khi sự phát triển được nhìn thấy không chỉ trong những con số kinh tế, mà trong chất lượng cuộc sống và cảm nhận công bằng của mỗi người dân.
V.X.B
