Khúc 'Samaki' Đà Nẵng - Nam Lào - Kỳ 3: Nghĩa tình không biên giới
Từ dọc dài biên giới, đi sâu vào Sê Kông, Salavan hay Attapeu, những 'chỉ dấu nghĩa tình' dày thêm theo năm tháng. Sự hiện diện của các công trình hữu nghị trên đất Lào, cùng với hàng loạt hoạt động như khám chữa bệnh, điều trị cho bệnh nhân Lào trên đất Việt, hay đào tạo lưu học sinh, kết nghĩa các thôn bản giáp biên... đã khẳng định một tình cảm khăng khít, vững bền của chính quyền và nhân dân Đà Nẵng với những người bạn Lào…

Chiến sĩ Đồn Biên phòng Ga Ry hỗ trợ người dân cụm bản Lào vận chuyển quà tặng nhân dịp Tết Bunpimay được tổ chức tại xã Hùng Sơn. Ảnh: LÊ VẤN
Bắc nhịp cầu hữu nghị
Xanh miên viễn màu trời biên giới trong cái nắng tháng Tư. Đoàn người từ các bản A Bưl, Pa Nol, Ta Long, Chi Tơ, Keo, Tà Vàng (huyện Kà Lừm, tỉnh Sê Kông, Lào) ngược sang xã Hùng Sơn (thành phố Đà Nẵng), cùng đến với thôn A Tu 1 để ăn Tết Bunpimay. Là Tết truyền thống của Lào, song dịp Bunpimay nhiều năm nay trở thành Tết chung của đồng bào giáp biên Việt Nam - Lào.
Giữa không khí Tết sôi động ở vùng biên, chúng tôi tình cờ bắt gặp một người quen ở thôn A Tu 1 - bà Pơloong Xoop, cư dân Việt gốc Lào. Bà Xoop hòa vào câu chuyện cộng đồng thân tình và gần gũi cùng những người quen từ miền quê cũ A Bưl. Hơn 6 năm trước, bà Pơloong Xoop cùng 5 người khác nữa ở xã Hùng Sơn là Zơrâm Ná, Hôíh Xấc, Pơloong Thị Bua Na, Hôíh Thị Heo và Zơrâm Nhứh được công nhận quốc tịch Việt Nam, sau hàng chục năm sinh sống tại vùng đất này.
Lần gặp này, chừng như ánh mắt bà Pơloong Xoop đã thôi in dấu về miền ký ức lang bạt ngày cũ, thời những người vợ Lào theo chồng về sinh sống bên kia biên giới. Không giấy đăng ký kết hôn, không tên trong hộ khẩu gia đình và cũng chưa từng được công nhận quốc tịch Việt Nam, họ từng đứng ngoài nhiều chính sách an sinh dành cho đồng bào miền núi. Thứ duy nhất họ có là sổ tạm trú, xác nhận sự hiện diện trên địa bàn.

Những công dân Lào tại xã Hùng Sơn được công nhận quốc tịch Việt Nam vào năm 2020. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC
Những vấn đề này được tháo gỡ khi đầu năm 2020, họ chính thức được công nhận quốc tịch, trở thành công dân Việt Nam thực thụ. Câu chuyện của bà Pơloong Xoop tưởng chừng rất riêng, nhưng lại phản ánh nỗ lực của chính quyền sở tại thời điểm đó trong việc tháo gỡ tình trạng pháp lý cho người dân. Hành trình ấy góp phần làm dày thêm tính nhân văn, tinh thần hữu nghị, từng bước giải quyết các vấn đề di cư tự do và hôn nhân không giá thú của đồng bào hai bên biên giới Việt Nam - Lào.
Đêm nhạc vui giữa núi rừng biên giới. Điệu lăm-vông nhịp nhàng được các cô gái từ nhiều cụm bản xa của huyện Kà Lừm biểu diễn, hòa theo vũ điệu tâng tung da dá truyền thống của đồng bào Cơ Tu, mang đến không gian Tết Bunpimay cổ truyền thêm đặc sắc. Đón những người bạn Lào, đồng bào Cơ Tu như đang mở hội cho chính dân làng mình. Một vòng tròn tay người được tạo ra, ở giữa là ánh lửa bập bùng trong đêm biên giới.

Cán bộ Việt Nam hòa niềm vui cùng cư dân Lào trong ngày Tết cổ truyền Bunpimay vừa được tổ tại xã Hùng Sơn. Ảnh: PHÚC TRƯỜNG
Đại tá Hoàng Văn Mẫn, Chính ủy Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng nói, Tết Lào hay Tết Việt, lực lượng biên phòng đều phối hợp tổ chức chung cho người dân hai bên biên giới. Bà con Lào được chung vui Tết Việt, bà con Việt cũng hòa vào không khí Tết Lào khi đến mùa. Không chỉ trong dịp Tết, mà cả khi thiên tai xảy ra trên dãy Trường Sơn, lực lượng biên phòng cùng chính quyền các xã biên giới đều kịp thời tổ chức thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ vật dụng thiết yếu, giúp người dân nước bạn khôi phục sản xuất, ổn định cuộc sống.
Những nghĩa tình ấy không chỉ đến vào dịp đặc biệt, mà được bồi đắp qua từng lần sẻ chia, từng sự chắt chiu, với tinh thần “giúp bạn cũng là giúp mình”. Dẫu vùng biên còn nhiều gian khó, cuộc sống chưa hết bộn bề lo toan, nhưng niềm vui đoàn kết và ước vọng về một năm mới đủ đầy, ấm no trong những ngày Tết cổ truyền vẫn lặng lẽ lan tỏa trên dải biên cương của Tổ quốc.

Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng và tỉnh Sê Kông dự lễ khởi công Bệnh viện Hữu nghị Đà Nẵng - Sê Kông vào đầu tháng 4/2026. Ảnh: THÀNH CÔNG
Gieo mối kết đoàn
Sáng 1/4 vừa qua, tại huyện Thà Teng (tỉnh Sê Kông), trên khoảng đất rộng còn vương màu đất mới, những nhát xẻng đầu tiên đã được xúc lên, đánh dấu sự khởi đầu của một công trình đặc biệt: Bệnh viện Hữu nghị Đà Nẵng - Sê Kông.
Với tổng nguồn vốn viện trợ không hoàn lại 6,7 triệu USD từ thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2026 - 2030, dự án được kỳ vọng trở thành điểm tựa chăm sóc sức khỏe cho người dân tỉnh Sê Kông và các địa phương lân cận như Salavan, Champasak, Attapeu. Không đơn thuần là một công trình dân sinh, Bệnh viện được nhìn nhận như một cột mốc mới trong hành trình gắn kết, vun đắp tình hữu nghị giữa hai địa phương, mối quan hệ đã được bồi đắp qua nhiều năm hợp tác.
Dưới ánh nắng buổi sáng trải trên khoảng đất vừa san lấp, cán bộ và người dân dõi theo từng nhịp lễ khởi công diễn ra. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Lê Ngọc Quang nhấn mạnh, công trình là minh chứng sinh động cho tình đoàn kết đặc biệt giữa hai địa phương.

Lưu học sinh Lào trình diễn điệu Lăm-vông tại chương trình gặp mặt của tỉnh Quảng Nam trước đây. Ảnh: ALĂNG NGƯỚC
“Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đà Nẵng và Sê Kông vẫn luôn kề vai sát cánh, đồng lòng vượt qua mọi khó khăn để cùng phát triển bền vững. Dự án này không chỉ là sự hỗ trợ về hạ tầng mà còn góp phần thiết thực vào công tác chăm sóc sức khỏe, nâng cao đời sống cho nhân dân khu vực Nam Lào và tỉnh Sê Kông”, Bí thư Thành ủy Lê Ngọc Quang khẳng định.
Cùng với khởi công công trình, Đà Nẵng cam kết hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao kỹ thuật, tăng cường hợp tác chuyên môn giữa các cơ sở y tế hai bên. Một mô hình hợp tác toàn diện từ con người đến hạ tầng, từ kiến thức đến thực tiễn bắt đầu được dựng xây ngay trên đất bạn Lào.
Bí thư Tỉnh ủy Sê Kông Bounlai Butthi khẳng định, Bệnh viện Hữu nghị Đà Nẵng - Sê Kông đặt nền móng quan trọng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, là một trong những công trình biểu tượng cho mối quan hệ đoàn kết đặc biệt giữa hai địa phương.
“Chính quyền và nhân dân tỉnh Sê Kông bày tỏ biết ơn sâu sắc đối với sự hỗ trợ thiết thực, kịp thời của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Đà Nẵng thời gian qua, nhất là trong lĩnh vực y tế. Chúng tôi cam kết tạo điều kiện thuận lợi để dự án được triển khai đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng và hiệu quả, sớm đưa vào phục vụ người dân theo kế hoạch đề ra”, Bí thư Tỉnh ủy Sê Kông Bounlai Butthi nói.
Một buổi chiều ở khu ký túc xá Trường Đại học Quảng Nam, các lưu học sinh Lào quây quần bên nhau trò chuyện. Câu chuyện về quê nhà, về hành trình sang Việt Nam học tập, xen lẫn những dự định sau khi tốt nghiệp, trở về phục vụ đất nước. Họ là một phần trong hàng trăm lưu học sinh Lào đã và đang được đào tạo tại Đà Nẵng ở nhiều lĩnh vực như y tế, sư phạm, kinh tế, ngoại ngữ…
Không chỉ tiếp nhận tri thức, họ còn mang theo trải nghiệm đời sống cùng những mối quan hệ gắn bó với người dân địa phương trong thời gian học tập. Nhiều người trở về nước công tác, nhưng mối liên hệ với Việt Nam vẫn được nối dài qua những lần trở lại, qua ký ức về một “thành phố thứ 2” xứ Quảng.
Có những đêm vùng biên, hành trình cứu người bắt đầu từ một cuộc gọi khẩn vọng lên giữa rừng núi. Trung tá Nguyễn Phúc Trường, Chính trị viên Đồn Biên phòng Ga Ry kể, khoảng một tháng trước, đơn vị nhận tin người nhà chị Si Phet Sa Mi (22 tuổi, trú bản A Bưl, huyện Kà Lừm, tỉnh Sê Kông) thông báo có trường hợp sinh khó cần hỗ trợ. Người thân đã đưa sản phụ đến khu vực biên giới trong điều kiện đường sá cách trở.
Thông tin vừa tiếp nhận, Đồn Biên phòng Ga Ry cử 7 cán bộ, chiến sĩ cùng quân y đơn vị, sử dụng xe cứu thương cơ động đến hiện trường. Tại đây, lực lượng hỗ trợ nhanh chóng thăm khám ban đầu, đánh giá tình trạng và phối hợp chính quyền địa phương tổ chức đưa đi cấp cứu.
Trước diễn biến phức tạp, đơn vị hỗ trợ 2 triệu đồng, đồng thời chuyển nạn nhân về Trung tâm Y tế Tây Giang để tiếp tục theo dõi và hỗ trợ sinh trong điều kiện tốt hơn. Xe lăn bánh qua những cung đường dốc đá trơn trượt, lực lượng biên phòng và quân y thay nhau bám sát, bảo đảm cho hành trình cấp cứu an toàn.
-----------
Kỳ 4: Vòng tay ở lại











