Kiến tạo 'đường băng' để công nghiệp văn hóa cất cánh

Từ điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, quảng cáo, trò chơi giải trí đến du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo của Việt Nam đang cho thấy khả năng tạo doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ và sức mạnh mềm quốc gia. Tuy nhiên, để tiềm năng văn hóa thực sự chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế, cần một hành lang pháp lý đủ mạnh, có khả năng kết nối toàn bộ chuỗi từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến thương mại hóa.

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang trong quá trình xây dựng được kỳ vọng sẽ tạo “cú hích” về thể chế, mở đường cho kinh tế sáng tạo của Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Chương trình “Vườn ánh sáng” tạo không gian trải nghiệm mới hấp dẫn người dân và du khách tại khu Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám, tháng 4-2026. Ảnh: Lệ Quyên

Chương trình “Vườn ánh sáng” tạo không gian trải nghiệm mới hấp dẫn người dân và du khách tại khu Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám, tháng 4-2026. Ảnh: Lệ Quyên

“Cú hích” cho công nghiệp văn hóa

Sau hơn một thập kỷ các ngành công nghiệp văn hóa được thúc đẩy phát triển, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển từ những chính sách mang tính định hướng, hỗ trợ từng lĩnh vực sang xây dựng một khuôn khổ pháp lý có tính liên ngành. Theo Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng, giai đoạn 2018-2025, tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Việt Nam ước đạt 4-5%, trong khi mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP tối thiểu là 7%. Thực tế, Việt Nam có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, lực lượng sáng tạo trẻ, thị trường hơn 100 triệu dân cùng sự phát triển nhanh của công nghệ và kinh tế số, song những lợi thế này chưa được khai thác tương xứng.

Ông Nguyễn Huy Dũng cho rằng, một trong những nguyên nhân là các quy định liên quan đến công nghiệp văn hóa hiện nằm rải rác trong các luật chuyên ngành, chủ yếu điều chỉnh từng lĩnh vực, nhưng lại thiếu cơ chế liên ngành để kết nối đầy đủ chuỗi giá trị, từ sáng tạo, sở hữu trí tuệ, vốn, sản xuất, phân phối, doanh thu đến tái đầu tư và xuất khẩu. Trong khi đó, công nghiệp văn hóa lại vận hành như một chuỗi liên hoàn: Sáng tạo phải gắn với quyền sở hữu trí tuệ; quyền phải có khả năng định giá, tiếp cận vốn, mở rộng thị trường. Việc có một luật chung cho phát triển công nghiệp văn hóa là rất cần thiết, nhằm tập trung tháo gỡ “điểm nghẽn”, làm rõ những “điểm mở” và lấp đầy các “khoảng trống” mà luật chuyên ngành chưa giải quyết. Do đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã soạn thảo Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, lấy ý kiến rộng rãi để kịp trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ hai, tháng 10-2026, nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Dự thảo Luật gồm 9 chương, 60 điều, điều chỉnh hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa cũng như quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Ba mục tiêu lớn được xác định là khẳng định vị trí của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu nền kinh tế; kết nối chuỗi giá trị để gia tăng giá trị kinh tế, xuất khẩu, thu hút đầu tư; đồng thời lan tỏa bản sắc, thương hiệu và sức mạnh mềm Việt Nam.

Một điểm đáng chú ý trong tư duy xây dựng Luật là không chỉ coi văn hóa như lĩnh vực cần đầu tư, bảo tồn và hỗ trợ mà nhìn văn hóa như một nguồn lực có khả năng tạo ra tài sản, sản phẩm và giá trị kinh tế. Nhà nước chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo, dẫn dắt, tạo môi trường để nghệ sĩ, nhà sáng tạo, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cơ sở đào tạo, tổ chức nghề nghiệp và các quỹ đầu tư tham gia toàn bộ chuỗi giá trị.

Trên tinh thần đó, dự thảo tập trung vào 6 nhóm chính sách lớn, gồm: Xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; phát triển tài sản trí tuệ; phát triển nhân lực; xây dựng hạ tầng; phát triển thị trường; hình thành cơ chế tài chính, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư. Đây đều là những vấn đề có tính nền tảng, quyết định khả năng hình thành một nền kinh tế sáng tạo vận hành theo cơ chế thị trường thay vì phát triển rời rạc theo từng lĩnh vực. Trong đó, chính sách về tài sản trí tuệ được đặc biệt quan tâm. Dự thảo hướng tới xây dựng công cụ quản lý vòng đời tài sản trên môi trường số, chuẩn hóa hồ sơ phục vụ thương mại hóa, nâng cao khả năng định giá, bảo vệ quyền sáng tạo và từng bước tháo gỡ rào cản trong tiếp cận vốn bằng tài sản trí tuệ. Ngoài ra, dự thảo cũng dành không gian đáng kể cho hạ tầng công nghiệp văn hóa, bao gồm: Công trình hạ tầng, tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm và khu công nghiệp sáng tạo, không gian công cộng dành cho hoạt động công nghiệp văn hóa và hạ tầng văn hóa số…

Động lực cho kinh tế sáng tạo

Sự cần thiết của Luật Phát triển công nghiệp văn hóa càng trở nên rõ ràng khi nhìn vào thực tiễn phát triển sôi động của các trung tâm sáng tạo lớn trên thế giới. Sự cấp thiết của Luật còn đến từ bối cảnh cạnh tranh ngày càng mạnh về văn hóa, công nghệ, tài sản trí tuệ và sức mạnh mềm. Các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa phát triển đang liên tục đầu tư cho công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo (AI), quyền sở hữu trí tuệ, hệ sinh thái sản xuất và phân phối nội dung. Điển hình là Hàn Quốc, từ năm 1999 đã ban hành luật khung thúc đẩy công nghiệp văn hóa. Trong khi đó, Trung Quốc dù đã có nhiều văn bản dưới luật cho từng lĩnh vực, hiện cũng đang xây dựng một đạo luật tổng thể tương tự. Còn Nhật Bản lại gắn công nghiệp nội dung với chiến lược “sức mạnh mềm” quốc gia, phối hợp xuyên suốt nhiều bộ, ngành để hỗ trợ xuất khẩu văn hóa. Điểm chung của những mô hình này là luật mở “đường băng” chính sách để sáng tạo cất cánh. Trong cuộc cạnh tranh đó, nếu Việt Nam chỉ có tài nguyên văn hóa phong phú nhưng không có cơ chế để chuyển hóa thành tài sản, sản phẩm và thương hiệu có khả năng cạnh tranh quốc tế thì lợi thế văn hóa khó trở thành lợi thế kinh tế.

Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam Vương Duy Biên cho rằng, việc xây dựng một đạo luật riêng cho công nghiệp văn hóa sẽ tạo “cú hích” quan trọng cho nền kinh tế sáng tạo khi thể hiện bước chuyển trong nhận thức, coi văn hóa là một nguồn lực phát triển và một thành tố của năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nhìn ở góc độ doanh nghiệp, Chủ tịch Le Group of Companies, Trưởng ban Lý luận, Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Lê Quốc Vinh nhận định, dự thảo Luật mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp sáng tạo. Doanh nghiệp và chủ thể sáng tạo được xác định rõ là những chủ thể trực tiếp tạo nên sự phát triển của công nghiệp văn hóa, trong khi Nhà nước tập trung vào kiến tạo thể chế, hạ tầng dùng chung, dữ liệu, bảo vệ quyền, đào tạo và xúc tiến. Đầu tư công cho văn hóa cũng được nhìn rộng hơn việc xây dựng công trình, hướng tới khả năng tạo hoạt động sáng tạo, doanh nghiệp, thị trường, việc làm và doanh thu.

Thời gian qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức các hội thảo lấy ý kiến góp ý Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội nhằm hoàn thiện thể chế, bám sát thực tiễn phát triển văn hóa Việt Nam. Phó Tổng Giám đốc Saigontourist Group Võ Anh Tài đề nghị, Luật nên dành quy định cụ thể hơn cho du lịch văn hóa, bởi đây là lĩnh vực có khả năng kết nối di sản, ẩm thực, nghệ thuật, thủ công mỹ nghệ, lễ hội với hệ thống lữ hành, lưu trú và phân phối. Đặc biệt, Luật cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sản phẩm gắn với bảo tồn di sản, mở rộng hợp tác công - tư, phát triển kinh tế đêm, không gian công cộng, tổ hợp văn hóa - du lịch - giải trí và tăng cường liên kết vùng.

Từ phía doanh nghiệp giải trí, Giám đốc Đối ngoại của Yeah1 Bùi Việt Hà kiến nghị, Luật cần tạo cơ chế để doanh nghiệp phối hợp với các cơ sở giáo dục trong việc đào tạo nhân lực công nghiệp văn hóa; xem xét chính sách khuyến khích nguồn lực của doanh nghiệp dành cho đào tạo. Bà Bùi Việt Hà cũng đề xuất những giải pháp thúc đẩy thói quen chi trả cho sản phẩm văn hóa và làm rõ cơ chế đồng đầu tư giữa Nhà nước với doanh nghiệp để khu vực tư nhân chủ động hơn khi đầu tư vào các sản phẩm mang bản sắc Việt Nam.

Phó Tổng Giám đốc Công ty Vietravel Huỳnh Phan Phương Hoàng cũng nhìn nhận, công nghiệp văn hóa muốn phát triển phải có thị trường, vốn, nhân lực, dữ liệu và cơ chế thử nghiệm. Nhà nước cần chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang kiến tạo thị trường, xây dựng cơ chế sandbox (ban hành khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát) với những mô hình mới, chia sẻ rủi ro hợp lý giữa Nhà nước và doanh nghiệp.

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức lấy ý kiến rộng rãi đến hết ngày 24-8-2026. Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng nhấn mạnh, mục tiêu xây dựng Luật không phải chỉ để hoàn thành một nhiệm vụ lập pháp mà phải tạo tác động thực sự đến sự phát triển của ngành. Đây cũng là yêu cầu quan trọng khi dự án Luật đang được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp thứ hai vào tháng 10-2026.

Khi được thông qua, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng không chỉ bổ sung thêm một đạo luật trong hệ thống pháp luật về văn hóa mà còn tạo ra một nền tảng thể chế để kết nối văn hóa với công nghệ, tài chính, giáo dục, du lịch, thương mại và thị trường quốc tế; bảo vệ người sáng tạo, đồng thời khuyến khích họ thương mại hóa thành quả sáng tạo; thu hút doanh nghiệp đầu tư nhưng vẫn bảo đảm những giá trị cốt lõi của văn hóa được gìn giữ và tái tạo.

Khi hành lang pháp lý đủ thông thoáng, tài sản trí tuệ được định giá và bảo vệ, thị trường được mở rộng, nguồn vốn được khơi thông và người sáng tạo được đặt đúng vị trí trung tâm, những giá trị vốn nằm trong di sản, nghệ thuật, thiết kế, âm nhạc, điện ảnh, ẩm thực hay những ý tưởng mới có thể hình thành sản phẩm, doanh nghiệp, việc làm và doanh thu. Đó cũng chính là con đường để văn hóa không chỉ được gìn giữ bằng nguồn lực của nền kinh tế mà còn trở thành nguồn lực tạo nên tăng trưởng, góp phần nâng cao vị thế và sức mạnh mềm của Việt Nam trong kỷ nguyên kinh tế sáng tạo.

Hoàng Lân

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/kien-tao-duong-bang-de-cong-nghiep-van-hoa-cat-canh-1216799.html