Kinh đô Indrapura - Di tích cần 'đánh thức'
Sự ra đời kinh đô Indrapura (giai đoạn 875-982) là khởi nguồn cho việc xây dựng và phát triển rực rỡ của Phật viện Lakṣmīndra-Lokeśvara (xã Đồng Dương) - trung tâm Phật giáo Đại thừa của Vương quốc Champa.

Tàn tích của kinh đô Indrapura tại rừng Thành (chụp năm 2010). Ảnh: CAO QUANG TỔNG
Kinh đô này dường như bị quên lãng, sau khi Lê Đại Hành “san phẳng” vào năm 982 và đến nay, vẫn còn lẩn khuất dưới “cái bóng” của Di tích quốc gia đặc biệt Phật viện Đồng Dương.
Tiền đề cho việc xây dựng thánh đô
Trước Indrapura, Champa đã có kinh đô Simhapura Trà Kiệu - xây dựng vào cuối thế kỷ III, đầu thế kỷ IV, được Lịch Đạo Nguyên (470-527) mô tả trong Thủy Kinh chú với tên gọi thành Điển Xung; đến nay giới nghiên cứu và khảo cổ luôn quan tâm qua các cuộc khai quật trong thế kỷ XX, để lại nhiều tư liệu quý giá.
Nhà khảo cổ học Yamagata Mariko (Đại học Rikkyo, Nhật Bản) cho hay, tàn tích có thể nhìn thấy trên mặt đất là bức thành phía nam và phía đông. Mặc dù ngày nay khó để nhận ra trên mặt đất, nhưng kết hợp với vị trí của các thành phía bắc và phía tây, được kiến trúc sư kiêm nhà khảo cổ học người Pháp Jean Yves Pierre Alfred Claeys xác nhận vào năm 1927-1928, chiều dài của di tích Trà Kiệu từ đông sang tây khoảng 1.500m, chiều rộng từ bắc xuống nam là khoảng 550m.
Theo TS. Lê Thị Mai: “Từ năm 1927 - 1928, với các kết quả khai quật có được ở Trà Kiệu, Claeys đã bước đầu phác họa bản đồ tòa thành và ông còn vẽ nó bằng tranh màu nước vào năm 1931”(1). Di tích thành cổ Trà Kiệu được công nhận Di tích cấp quốc gia năm 2013.
Sự ra đời của kinh đô Simhapura của vương triều Bhadravaman là tiền đề cho việc xây dựng thánh đô Srisanabhadresvara ở thung lũng Mỹ Sơn - trung tâm tôn giáo, tín ngưỡng quan trọng bậc nhất của vương quốc Champa, từ cuối thế kỷ thứ IV hoặc đầu thế kỷ V; được công nhận Di sản văn hóa thế giới vào năm 1999.
Với kinh đô Indrapura, theo GS. Lê Mạnh Thát (Viện Nghiên cứu Phật học), thông tin từ những tấm bia được tìm thấy tại Đồng Dương vào đầu thế kỷ XX, cho biết “Indravarman II là người thành lập ra triều đại Indrapura tại vùng Amaravati, tức vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi miền Trung Việt Nam để cai trị toàn vương quốc Chiêm Thành. Chính tại vùng đất này, Indravarman II đã cho xây dựng kinh đô Indrapura, trong đó có cả Phật viện Đồng Dương”(2).
Như vậy, hai kinh đô Simhapura và Indrapura của Champa trên đất Đà Nẵng là nền tảng về vương quyền để xây dựng hai trung tâm thần quyền mang tầm vóc Đông Nam Á là thánh đô Srisanabhadresvara (Mỹ Sơn) và Phật viện Laksmındra-Lokesvara (Đồng Dương), thể hiện hai giai đoạn quan trọng của tôn giáo ở Vương quốc Champa là Ấn Độ giáo và Phật giáo Đại thừa.
Theo bia ký Đồng Dương 2 mô tả, kinh đô Indrapura là một “[thành phố] sáng láng này mà đức vua Jaya Sinhavarman bảo vệ có sức mạnh không ngừng tăng thêm thịnh vượng, [thành phố này] gắn bó không xa rời với hạnh vận tốt lành, rực rỡ nơi đây”; “Thành phố này gọi là Champa (Campa), là thành phố được điểm tô bằng sản vật của Indrapura, được tôn tạo bởi những bông sen trắng, xây dựng từ thời xa xưa bởi Bhrgu là thành phố nguy nga chưa đâu bằng”.
Tuy nhiên, dưới sự tàn phá của chiến tranh và điều kiện tự nhiên, “thành phố nguy nga” này bị quên lãng và chìm khuất; ít được giới nghiên cứu, khảo cổ quan tâm so với Phật viện Đồng Dương và kinh đô Trà Kiệu.
Xác định Indrapura là kinh đô
Theo KTS Cao Quang Tổng, ý tưởng về việc xem Indrapura là kinh đô của Vương quốc Champa được các học giả người Pháp như Louis Finot, Henri Parmentier nêu ra từ đầu thế kỷ XX; sau này được đa số nhà nghiên cứu tán thành. Lý do là bia ký khai quật tại đây ghi nhận khá rõ ràng về kinh thành này, với một khu vực rộng lớn chứ không chỉ gói gọn khu vực Phật viện mà các nhà khảo cổ học người Pháp khoanh vùng, nghiên cứu(3).
Còn sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi, vua Đại Cồ Việt là Lê Đại Hành chinh phạt Champa vào năm 982: “Vua thân đi đánh Chiêm Thành thắng được. Trước đây vua sai Từ Mục và Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành, bị họ bắt giữ. Vua giận, mới đóng thuyền chiến, sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém được Phê Mị Thuế tại trận; Chiêm Thành thua to; bắt sống được binh sĩ không biết bao nhiêu mà kể; bắt được kỹ nữ trong cung trăm người và một thầy tăng người Thiên Trúc; lấy các đồ quý mang về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn; san phẳng thành trì, phá hủy tôn miếu, vừa một năm thì trở về Kinh sư”.
Điều đó cho thấy, bên cạnh Phật viện Laksmındra-Lokesvara, tại đây xác định rõ ràng một kinh đô tồn tại đến cuối thế kỷ X. Sau khi thành trì bị san phẳng, vua tử trận, triều đại Indrapura kết thúc, Vương triều Champa dời đô từ Indrapura về Vijaya (nay là phường An Nhơn, tỉnh Gia Lai). Từ đó kinh thành Indrapura trở thành phế tích.
Dành khá nhiều thời gian nghiên cứu tư liệu và khảo sát thực địa, KTS Cao Quang Tổng cho rằng, trong phạm vi rộng lớn của di tích Đồng Dương và vùng phụ cận có di tích, có thể chia làm hai không gian chức năng chính, khu tôn giáo - tức là khu Phật viện ở phía tây và khu thành cổ ở phía đông, ranh giới phân chia này có lẽ là kiến trúc ao vuông.
“Dấu tích kinh thành về phía đông của Ao Vuông cần có thêm nhiều dữ liệu khai quật để kiểm chứng, tuy nhiên những dấu tích ban đầu của các di tích cho ta nhiều đoán định đây là khu vực hành chính, cư dân của kinh đô Indrapura… Rừng Thành là một di tích quan trọng có thể chứa đựng nhiều bí mật về kinh đô đã mất Indrapura.”, KTS Cao Quang Tổng nhận định.

Suối Ngọc Khô - từ cầu Ông Triệu (Quốc lộ 14E) nhìn về phía rừng Thành. Ảnh: ANH QUÂN
Cần khai mở những bí mật
Theo khảo tả từ thực địa của KTS Cao Quang Tổng, kinh đô Indrapura ở khu vực Rừng Thành hiện nay là một phế tích kiến trúc gạch rộng lớn, đồ sộ, dạng thành bao nhiều lớp, thành bao phía trong là kiến trúc gạch hình vuông kích thước cạnh hơn 100m, bờ thành xây gạch này bố trí trên một địa hình cao nhất của khu đồi thoải bằng phẳng. Chiều cao bờ thành hiện trạng trung bình khoảng 1m so với mặt đất bên ngoài, riêng góc tây bắc và cạnh bắc cao hơn bên ngoài khoảng 2m do địa hình thấp. Trong tường bao và bốn góc thành xuất hiện nhiều đồi gạch có lẽ trước đây tồn tại nhiều kiến trúc khá lớn.
Mặt phía đông có dấu tích cổng và đường lát gạch chạy ra hướng suối, trên đường phát hiện mảnh vỡ giống ngói cổ. Trên đường này cách phía đông của thành bao khoảng 30m xuất hiện đồi gạch nhỏ tựa như dấu tích của tháp cổng. Mặt phía nam cũng có dấu tích một con đường lát gạch chạy thẳng góc, hướng đến một tảng đá có hình thù đặc biệt gọi là Đá Bia.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, sau khi bức tượng Bồ tát Laksmındra-Lokesvara (Tara) được phát hiện vào năm 1978 tại Đồng Dương, người dân đổ xô đến di tích Rừng Thành để đào bới, tìm kiếm báu vật và đãi vàng, nên hiện trạng khu vực này bị xáo trộn rất nhiều, khó khảo tả chính xác từ thực địa…
Nhưng điều may mắn cho công tác khai quật, khảo cổ… là các di tích này hiện bố trí trên một vùng quê dân cư còn thưa, chưa bị đô thị hóa mạnh. Các di tích chính như tháp Sáng, ao Vuông và rừng Thành nằm trên một trục đường thẳng, độ dài khoảng 2,5km. Lần theo dấu vết đường thẳng này, mở rộng ra các di tích chung quanh, hẳn dưới lòng của “Cánh đồng Thiêng” sẽ chứa đựng những bất ngờ, thú vị và có giá trị đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu về Vương quốc Champa rực rỡ một thời…
Thiết nghĩ, cùng với việc bảo tồn, trùng tu, tôn tạo Phật viện Laksmındra-Lokesvara, cần quan tâm nhiều hơn đến việc tiếp tục khảo sát, nghiên cứu, lập hồ sơ để bảo tồn và phát huy giá trị di tích kinh đô Indrapura trong thời gian tới.
-----------
(1) Đất Quảng trong lịch sử - Tư liệu và nghiên cứu (Hy Giang Lê Thị Mai, NXB Đà Nẵng, 2024).
(2) Phật viện Đồng Dương và nguồn gốc của nó (GS Lê Mạnh Thát, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia: Nghiên cứu bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật viện Đồng Dương, tháng 5/2026, UBND thành phố Đà Nẵng).
(3) Phật viện Đồng Dương và kinh thành Indrapura (Cao Quang Tổng, NXB Đà Nẵng, 2021).
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/kinh-do-indrapura-di-tich-can-danh-thuc-3343064.html











